Truyền hình trả tiền: Miếng bánh 2.500 tỉ đồng

Nếu tính bình quân phí thuê bao là 600.000đ/năm, xét về lý thuyết, doanh thu mỗi năm của THTT khoảng 2.500 tỉ đồng. Nguồn thu chính của THTT hiện nay vẫn là cáp và kỹ thuật số mặt đất, còn truyền hình vệ tinh không đáng kể vì còn trợ giá cho người tiêu dùng theo chính sách của Nhà nước

 

 

Truyền hình trả tiền đang được xem là “miếng bánh” hấp dẫn của các nhà đài, dù người tiêu dùng chưa hài lòng về chất lượng dịch vụ.

Nhờ công nghệ truyền hình vệ tinh mà người dân vùng sâu vùng xa xem được nhiều kênh truyền hình hấp dẫn hơn, nhưng phải trả tiền. Trong ảnh: người dân làng biển Vân Phong (Khánh Hoà) dùng ăngten chảo thu tín hiệu truyền hình từ vệ tinh (DTH) của VTV. Ảnh: Minh Phúc

Ông Lưu Vũ Hải, cục trưởng cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (bộ Thông tin và truyền thông) nói với Sài Gòn Tiếp Thị, trước đây, các cơ quan quản lý đã “du di” khi xem dịch vụ này là để các đài truyền hình có thêm nguồn tài chính, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên.

“Sân sau” của các nhà đài

Tháng 9.2003 lượng thuê bao truyền hình trả tiền (THTT) chỉ có 80.000 thuê bao (khai thác trên công nghệ cáp) với hai nhà cung cấp chính là đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và đài Truyền hình TP.HCM (HTV). Sáu năm sau, cũng theo số liệu của cục, số thuê bao THTT đã vượt qua 4,2 triệu. Trong đó, truyền hình cáp và truyền hình số mặt đất, mỗi công nghệ khoảng 2 triệu thuê bao, còn lại là số thuê bao của truyền hình vệ tinh và truyền hình internet (IPTV).

Nếu tính bình quân phí thuê bao là 600.000đ/năm, xét về lý thuyết, doanh thu mỗi năm của THTT khoảng 2.500 tỉ đồng. Nguồn thu chính của THTT hiện nay vẫn là cáp và kỹ thuật số mặt đất, còn truyền hình vệ tinh không đáng kể vì còn trợ giá cho người tiêu dùng theo chính sách của Nhà nước, riêng IPTV mới bắt đầu thâm nhập thị trường với dịch vụ của FPT Telecom và VNPT.

Ông Phan Thanh Nho, giám đốc công ty công nghệ Sao Nam, một đối tác của đài Truyền hình Hà Nội cho biết, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng hạ tầng truyền dẫn (có thể thuê lại mạng của bên viễn thông), quản lý thuê bao và tính tiền, sau đó ăn chia theo tỷ lệ: 51% thuộc về nhà đài, phần còn lại là của doanh nghiệp. Ông Nho từ chối cung cấp con số lợi nhuận mà chỉ nói rằng, việc các doanh nghiệp tham gia vào dịch vụ THTT, chủ yếu là truyền hình cáp, vì dịch vụ này là “dễ làm dễ ăn”. Bà Nguyên Hạnh (công ty Q-Net) cho biết, nếu tính luôn phí bản quyền khoảng 8%, chi phí tổ chức nội dung của dịch vụ THTT chiếm 40% doanh thu. Bà Hạnh cũng không nêu mức lãi sau thuế của dịch vụ này

Bánh ngon nhiều món


Không chỉ có nguồn thu từ thuê bao tháng, dịch vụ THTT còn có khoản thu đáng kể từ phí lắp đặt và buôn bán các thiết bị liên quan. Để lắp đặt dịch vụ truyền hình cáp tại TP.HCM, tốn ít nhất là 50m cáp (mỗi mét là 5.000 – 5.500đ), chi phí lắp đặt là 100.000đ, cộng thêm bộ chia tín hiệu (nếu dùng hai tivi trở lên) khoảng 35.000đ, vị chi gần 400.000đ. Khoản chi lắp đặt ở Đà Nẵng là 800.000đ, còn ở Bình Phước là 790.000đ. Gần đây, nhiều khách hàng tại TP.HCM phản ảnh rằng, tín hiệu truyền hình cáp của cả hai nhà cung cấp dịch vụ SCTV và HTVC sẽ nhiều kênh hơn nếu chấp nhận mua thêm hộp set top box (giải mã tín hiệu): chuẩn hình SD là 1,92 – 1,99 triệu đồng, còn chuẩn hình HD là 3,3 – 4,6 triệu đồng.

Muốn lắp đặt thiết bị thu tín hiệu truyền hình qua vệ tinh, với dịch vụ của VTV tốn 1,94 triệu đồng/bộ, còn gói của tổng công ty Truyền thông đa phương tiện Việt Nam (VTC) là 3 triệu đồng/bộ. Nếu dùng dịch vụ IPTV, khách hàng phải trả nhiều thứ, từ đầu thu cho đến gói ADSL tốc độ thấp nhất là 2Mbps với giá lắp đặt ban đầu khoảng 2,5 triệu đồng, muốn dùng hình ảnh tín hiệu HD (độ phân giải cao) phải chi thêm 1 triệu đồng.

Cho gì xem nấy

Tại nhiều địa phương, người sử dụng không được quyền “thắc mắc” vì họ không có sự lựa chọn dịch vụ THTT nào khác. Tại quận 1 và quận 3 (TP.HCM), dù là những quận trung tâm nhưng tại nhiều phường, HTVC vẫn chưa thể kéo cáp được. Vì vậy, sân chơi này chỉ còn SCTV.

Cho dù có hạn chế vùng “phủ cáp” hay không, các nhà cung cấp dịch vụ đã không sòng phẳng với người tiêu dùng. Bằng chứng, trong những hợp đồng trước đây, nếu đăng ký gói giá cao nhất sẽ có các kênh BBC, CNN, CCTV… Sau đó, lấy lý do “Nhà nước muốn sắp xếp và quản lý nội dung”, những kênh trên đã bị cắt bỏ khỏi danh mục. Nhưng nay, muốn xem những kênh trên, khách hàng chỉ cần mua đầu thu từ nhà cung cấp hoặc các đại lý. Như vậy, lý do mà các nhà cung cấp dịch vụ đã giải thích là không sòng phẳng với người tiêu dùng. Sự tuỳ tiện của các nhà cung cấp dịch vụ còn thể hiện ở việc thêm nhiều kênh truyền hình địa phương để gia tăng số lượng như một chiêu cạnh tranh, không cần biết người xem có đồng ý hay không. Ông Trà (quận 11, TP.HCM) bức xúc: “Có gần 20 kênh truyền hình địa phương đã được đưa vào THTT. Những kênh này tôi không bao giờ xem vì có cùng hình thức na ná: tiếp sóng thời sự VTV1, chương trình ca nhạc của HTV và sau đó là phim Hàn hoặc Trung Quốc”.

Để gia tăng số lượng kênh cho dịch vụ THTT, các nhà cung cấp dịch vụ đã tự phát triển các kênh truyền hình riêng. Hiện có 65 kênh truyền hình riêng. Về số lượng là nhiều nhưng đáng bàn là chất lượng. Giám đốc một công ty làm đại lý cho trung tâm Truyền hình cáp Việt Nam (đề nghị không nêu tên) nói: “Trong 29 kênh truyền hình riêng, số lượng kênh xem được chỉ 1/3, còn lại là nhảm. Điển hình là các kênh bán hàng qua truyền hình. Các kênh phim cũng chưa được đầu tư nghiêm túc: phim không có giá trị nội dung…” Được biết, vì không đủ sức đầu tư nên các hãng truyền hình đã bán kênh cho các doanh nghiệp bên ngoài (gọi là xã hội hoá) nhằm khai thác nguồn thu. Ông Trần Văn Uý, giám đốc SCTV xác nhận, muốn làm kênh riêng phải liên kết với đối tác bên ngoài nên thời lượng quảng cáo nhiều, làm người xem khó chịu.

Theo SGTT