Thương hiệu Việt Nam được Brand Finance xếp hạng A+, tức thuộc nhóm các quốc gia có thương hiệu mạnh.

Trong một thế giới cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các yếu tố vô hình như giá trị thương hiệu ngày càng được giới đầu tư xem trọng, bởi nó phản ánh uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Nhưng không chỉ dừng lại ở mức độ công ty, hiện thương hiệu của một quốc gia cũng là yếu tố quan trọng, giúp truyền tải thông điệp về chất lượng của hàng hóa - dịch vụ mà quốc gia đó sản xuất, đồng thời gián tiếp giúp cho các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh hiệu quả hơn. Vậy thương hiệu của Việt Nam trị giá bao nhiêu?

Bước tiến ấn tượng

Theo báo cáo mới đây của hãng nghiên cứu về giá trị thương hiệu Brand Finance, hai chữ “Việt Nam” đang có giá trị khoảng 203 tỉ USD, tăng mạnh 43% so với kết quả đo được vào năm 2016, đồng thời lọt vào top 5 quốc gia chứng kiến tốc độ cải thiện thương hiệu ấn tượng nhất trong năm 2017.

Thương hiệu Việt Nam cũng được xếp hạng A+, tức thuộc nhóm các quốc gia có thương hiệu mạnh, chỉ đứng sau nhóm các quốc gia có thương hiệu “xuất sắc” và “rất mạnh”. Thương hiệu quốc gia được cải thiện phản ánh môi trường đầu tư ở Việt Nam đang hấp dẫn hơn mà thực tế đã chứng minh qua dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay lượng khách du lịch quốc tế tăng vọt trong hai năm gần đây.

G1Giá trị thương hiệu Việt Nam có mức tăng trưởng cao thứ 5 thế giới. Ảnh: VnExpress.

“Việt Nam là một quốc gia sở hữu nhiều lao động có tay nghề cao. Thực tế, các công ty nước ngoài đua nhau xây dựng cơ sở sản xuất tại Việt Nam với kỳ vọng về một thị trường nội địa hấp dẫn cũng như chi phí lao động tương đối thấp”, bà Natasha Ansell, Giám đốc Điều hành của Citi Việt Nam, cho biết.

Công thức tính giá trị thương hiệu quốc gia khá phức tạp. Brand Finance khảo sát thực tế từ các nhà đầu tư để xây dựng nên chỉ số sức mạnh thương hiệu (BSI), áp vào đó tỉ lệ điều chỉnh (Royalty Rate) kết hợp với sử dụng quy mô của nền kinh tế trong 5 năm tới để tính toán dòng thu nhập đầu vào. Các dòng thu nhập này sẽ được chiết khấu với một tỉ lệ phù hợp để tính được giá trị hiện tại ròng và tổng lại cho ra giá trị cuối cùng.

Nhìn chung, bảng xếp hạng năm nay phản ánh phần nào sự dịch chuyển về vị thế cạnh tranh của hai lục địa Á - Âu. Trong khi Trung Quốc tiếp tục giữ được vị trí số 2 với giá trị 10.209 tỉ USD, Nhật giữ vững vị trí thứ 4 với giá trị 3.439 tỉ USD, thì một số nước châu Á khác như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Việt Nam cũng ghi nhận sự cải thiện mạnh mẽ về giá trị thương hiệu. Ngược lại các quốc gia châu Âu như Đức, Hà Lan, Bỉ, Thụy Sĩ, Thụy Điển và Áo chứng kiến sự sụt giảm về giá trị thương hiệu hay chỉ tăng không đáng kể.

Câu chuyện ấn tượng nhất trong bảng xếp hạng năm 2017 có thể nói là về Trung Quốc. Giá trị thương hiệu quốc gia này tăng lớn nhất về con số tuyệt đối (hơn 3.100 tỉ USD). Hiện các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm đến 50 trong tổng bảng xếp hạng 500 các doanh nghiệp có thương hiệu mạnh nhất thế giới (Global 500), trong đó có 4 lĩnh vực dẫn đầu toàn cầu là ngân hàng (với thương hiệu ICBC), rượu (Moutai), bảo hiểm (PingAn) và bất động sản (Dailian Wanda).

Trong tương lai, có thể vị thế của Trung Quốc sẽ tăng thêm đáng kể khi tập đoàn hàng đầu như Alibaba ngày càng được thế giới biết đến.

G2Thành tựu đó có thể giúp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tăng thêm uy tín. Còn nhớ vào năm 2012, ông Tập đã nhận định rằng Trung Quốc phải nỗ lực chấm dứt cái mác chỉ là nơi gia công và cung cấp linh kiện cho các quốc gia phương Tây, mà phải xây dựng được các thương liệu riêng đẳng cấp thế giới. Trung Quốc đã thiết kế hẳn một chương trình, trong đó có thành lập cả Hội đồng Phát triển thương hiệu quốc gia để hiện thực hóa giấc mơ Trung Hoa của ông Tập Cận Bình.

Câu chuyện tương lai

Rõ ràng, một quốc gia có thương hiệu mạnh thì các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi. Do đó, khá nhiều quốc gia nỗ lực tìm nhiều cách để nâng cao giá trị tài sản vô hình này, điển hình như Trung Quốc, Nhật, hay Hàn Quốc. Ở Đông Nam Á, Singapore có thể xem là quốc gia dẫn đầu về chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia. Hiện quốc đảo này là quốc gia duy nhất trên thế giới có chỉ số BSI lớn hơn 90, theo khảo sát và tính toán của Brand Finance.

Không có nguồn tài nguyên dồi dào, Singapore buộc phải thực hiện chiến lược đầu tư vào con người thông qua chương trình The Skills Future, trong đó cứ mỗi người dân Singapore từ 25 tuổi trở lên sẽ được nhận 500 đô la Singapore để tham gia vào các chương trình huấn luyện nghề nghiệp. Năm 2016, có hơn 400.000 người đã tham gia chương trình này. The Skills Future được kỳ vọng trang bị cho công dân Singapore các kỹ năng cần thiết để củng cố lợi thế cạnh tranh về nghề nghiệp trong các năm tới.

Hãy quay trở lại với câu chuyện của Việt Nam. Mặc dù thương hiệu quốc gia cải thiện rất tốt nhưng xét về giá trị tuyệt đối, Việt Nam mới chỉ đứng vị trí thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á, xếp sau Indonesia (845 tỉ USD), Malaysia (489 tỉ USD), Thái Lan (483 tỉ USD), Philippines (466 tỉ USD) và Singapore (464 tỉ USD). Rút ngắn khoảng cách với các đối thủ này sẽ không là nhiệm vụ dễ dàng.

Điều lạc quan là nhìn thấy được điểm yếu này, Chính phủ đã kết hợp với các hãng tư vấn như Brand Finance để thiết kế chương trình xây dựng thương hiệu cho quốc gia mang tên Vietnam Value, bước đầu nhận được sụ quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và giới đầu tư trong và ngoài nước. “Với chương trình Vietnam Value, Việt Nam được đánh giá có những bước tiến nhất định trong công tác xây dựng và phát triển thương hiệu”, ông Samir Dixit, Giám đốc vùng châu Á - Thái Bình Dương của Brand Finance, chia sẻ.

* Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư

Một cuộc cách mạng bán lẻ đang diễn ra tại khu vực cửa hàng tiện lợi của Đông Nam Á

Các cửa hàng địa phương đang tìm ra lợi thế cạnh tranh bằng cách điều chỉnh các sản phẩm dựa trên thời gian trong ngày và tăng cường dịch vụ lên ngang bằng với các cửa hàng ở Nhật và các nền kinh tế tiên tiến khác.

Chúng ta hãy lấy chuỗi cửa hàng VinMart Plus làm ví dụ. Kể từ khi công ty bắt đầu chú trọng đến việc mở rộng mạng lưới cửa hàng, số lượng cửa hàng VinMart Plus đã tăng nhanh chóng lên 1.000 vào tháng 9. Số lượng cửa hàng như trên vượt xa chuỗi cửa hàng thứ 2, FamilyMart của Nhật, vốn dự kiến ​​sẽ có 150 cửa hàng vào cuối năm nay.

Nhiều cửa hàng ở Hà Nội và TP.HCM đều nhỏ bé và hẹp, có diện tích dưới 100m2.

Một cửa hàng VinMart Plus trên đường Lê Duẩn ở Hà Nội là một ví dụ điển hình. Nó được cải tạo từ một studio cho thuê. Các cửa hàng chỉ rộng 3-4m, khác xa với một cửa hàng tiện lợi thông thường ở Nhật. Các lối đi hẹp nhất chỉ là 90cm, ít hơn nhiều lối đi trong các cửa hàng ở Nhật và các nền kinh tế tiên tiến khác.

Khách hàng dường như không quan tâm lắm đến điều này, vì hầu hết các cửa hàng ở Việt Nam đều nhỏ.

CM1Sơ đồ không gian tại một cửa hàng Vinmart Plus. Ảnh: Nikkei.

Cầu thang và tầng hai đã được chuyển thành nhà kho. Về cơ bản, mỗi cửa hàng được quản lý bởi hai nhân viên, với trên dưới 10 camera an ninh.

Đặc điểm nổi bật nhất của cửa hàng VinMart Plus là giá sản sản phẩm thay đổi theo thời gian trong ngày. Kể từ tháng 6, các cửa hàng VinMart Plus đã thực hiện bán giá ưu đãi các thực phẩm tươi sống, thực phẩm có thể ăn ngay khỏi cần nấu từ 4 giờ chiều tới 7h30 tối, công ty gọi đây là "giờ vàng nội trợ".

Phần lớn các sản phẩm trên rất được những người nội trợ ở Việt Nam ưa chuộng.

Đồng thời, các cửa hàng giảm giá 10-20% đối với một số sản phẩm. Những phương pháp này đang chứng tỏ hiệu quả, lôi kéo khách hàng từ các chợ truyền thống và siêu thị vào cửa hàng VinMart Plus.

Một số người quản lý của cửa hàng VinMart Plus nói: "Số bà nội trợ thường xuyên ghé qua cửa hàng của chúng tôi đang gia tăng.

Doanh thu hàng ngày tại cửa hàng trên đường Lê Duẩn là vào khoảng 16 triệu đồng (700 USD). Các loại bán chạy nhất là đồ uống có cồn và đồ uống khác, đồ ăn nhẹ và thực phẩm có thể ăn ngay, và rau củ.

Dịch vụ giao hàng tại nhà trong bán kính 700m của 22 cửa hàng VinMart Plus tại Hà Nội bắt đầu vào ngày 5.10, và số lượng khách hàng đang tăng mạnh.

Vingroup dự kiến ​​tăng số lượng cửa hàng VinMart Plus lên 3.000 vào năm 2018 và 10.000 vào năm 2019.

Ngưỡng thu nhập

Vingroup dự kiến ​​tăng số lượng cửa hàng VinMart Plus lên 3.000 vào năm 2018 và 10.000 vào năm 2019.

Số lượng thành phố có GDP tính theo đầu người vượt quá 3.000 USD đang gia tăng ở khu vực Đông Nam Á, một ngưỡng có thể kích thích sự bùng nổ của các cửa hàng tiện lợi.

Trong khi các cửa hàng tiện lợi đang lan rộng khắp khu vực, các chuỗi cửa hàng Nhật Bản, vốn có những ưu thế trong thiết kế và dịch vụ lưu trữ, phải đối mặt với một trận chiến khó khăn. Các vấn đề của họ bao gồm hoạch định các chính sách hàng hóa phù hợp với sở thích của người địa phương, thiết lập mạng lưới phân phối và khắc phục các hạn chế của địa phương đối với việc mở cửa hàng.

Vào cuối tháng 6, nhà khai thác của các cửa hàng 7-Eleven ở Indonesia đã phải đóng cửa tất cả 116 cửa hàng. Trong khi đó, các đối thủ địa phương như Indomaret và Alfamart đã mở tới 10.000 cửa hàng.

Các chuỗi cửa hàng tại địa phương đã thiết lập được một hệ khách hàng thường xuyên bằng cách mở các cửa hiệu nhỏ gần các khu dân cư. Ngược lại, các cửa hàng 7-Eleven quá rộng lớn, nhưng khu ăn uống lại quá chật và bị ảnh hưởng bởi hạn chế mức tiêu thụ rượu ở xứ vạn đảo.

Tại TP.HCM, số lượng các cửa hàng FamilyMart và Ministop là gần 100. Tuy nhiên, tại Hà Nội, các chuỗi cửa hàng của Nhật vẫn chưa mở cửa hàng tiện lợi nào.

Một nhà quản lý cao cấp của một chuỗi cửa hàng của Nhật, người đã từng hoài nghi cách tiếp cận của Vingroup về việc mở cửa có quy mô nhỏ như vậy. Người này cho biết cửa hàng VinMart Plus "không được coi là cửa hàng tiện lợi", và cho rằng Vingroup sẽ "thua lỗ lớn." Nhưng giờ đây ông đang cảm nhận một mối đe dọa lớn từ VinMart Plus.

* Nguồn: Nhịp cầu Đầu tư

Theo Financal Times, với hơn 15%, tỷ lệ người Việt Nam dự định mua ôtô trong vòng 6 tháng tới đang ngày càng gần mức trung bình của khu vực, cao hơn Thái Lan, Indonesia.

Theo số liệu của tạp chí Financial Times, trong 4 năm gần đây, tỷ lệ trung bình người tiêu dùng thành thị ở các nền kinh tế ASEAN dự định mua ôtô trong 6 tháng kế tiếp là 25%.

Tại Việt Nam, mức trung bình của năm 2016 và 2017 là trên 15%, tăng từ mức 11,9% của năm 2013, và cao hơn 4 quốc gia có quy mô dân số và điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng gồm Philippines, Malaysia, Indonesia và Thái Lan.

Financal Times nhận định nhu cầu mua ôtô của người Việt Nam dần bắt kịp các nước láng giềng ASEAN cho thấy đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong 4 năm qua, thúc đẩy gia tăng về thu nhập và chi tiêu của giới trung lưu ở Việt Nam.

Việc doanh số ôtô chững lại trong 2017 là hệ quả của thuế nhập khẩu nội khối ASEAN về 0% năm 2018 theo Hiệp định thương mại ATIGA. Con số này dự kiến quay trở lại đà tăng trưởng trong năm sau.

O1Nhu cầu mua ôtô của người Việt dần bắt kịp mức trung bình của ASEAN. Đồ họa: Minh Khoa.

'Giấc mơ sở hữu ôtô của người Việt là chính đáng'

Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia mới được công bố tại một hội thảo ở Hà Nội, nhu cầu về ôtô tại Việt Nam đang ngày càng tăng, nhất là các thành phố lớn, nơi tỷ lệ tăng trưởng ôtô đã vượt qua xe máy. Tỷ lệ tăng trưởng của xe máy trên cả nước hiện là 7,3% và ôtô là 6,5%. Trong khi đó, đối với các đô thị lớn, mức tăng trưởng của xe máy là 10%, còn ôtô lên tới 15%.

Việt Nam hiện có 49 triệu xe máy và khoảng 3,2 triệu ôtô đang lưu hành. Xét trên quy mô dân số 95 triệu người, tỷ lệ sở hữu xe máy là 516 xe/1.000 dân, ôtô là 33 xe/1.000 dân.

Theo nghiên cứu của Solidiance - công ty tư vấn chiến lược hàng đầu tại châu Á, giai đoạn 2017-2020, thị trường ôtô con tại Việt Nam sẽ tăng trưởng 13%. Tổng lượng ôtô bán ra dự kiến chạm mức 225.000 xe vào năm 2020.

Tăng trưởng kinh tế và môi trường thương mại tự do hóa khiến Việt Nam trở thành quốc gia có thị trường ôtô tăng trưởng nóng. Việt Nam hiện có nhóm người giàu (thu nhập trên 1.000 USD/tháng) tăng 15% mỗi năm. Dự kiến, nhóm này sẽ tăng lên 45 triệu người vào 2025.

O2Việt Nam hiện có 3,2 triệu xe ôtô đang lưu hành.

Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế - PGS. TS Ngô Trí Long nhận định: "Thế kỷ 21 là thời đại văn minh, là thế kỷ của con người, đáp ứng đủ nhu cầu về sống, ăn, ở, mặc và đi lại, nên việc sở hữu ôtô là giấc mơ hoàn toàn chính đáng. Nhưng hiện tại, tỷ lệ sở hữu ôtô của người Việt vẫn thấp hơn so với khu vực, như Thái Lan, Indonesia và Malaysia, càng không thể so với Mỹ, nơi tỷ lệ sở hữu ôtô là 789 xe/1.000 dân".

Giấc mơ có gần hơn?

Giấc mơ ôtô của người Việt trở thành hiện thực hay không phụ thuộc nhiều nhất vào giá xe. Chưa bao giờ người Việt quan tâm đến cụm từ "ôtô giá rẻ" như giai đoạn này.

Hy vọng bắt đầu sáng khi các hãng xe đồng loạt đưa ra chương trình giảm giá tại Việt Nam từ đầu 2017, kéo giá bán nhiều mẫu xe xuống ngang ngửa với khu vực. Nhiều người tiêu dùng Việt tin rằng giá xe sẽ tiếp tục hạ khi thuế nhập khẩu nội khối ASEAN về 0% từ 2018 theo Hiệp định thương mại ATIGA.

Về phía các doanh nghiệp lắp ráp, quyết tâm của THACO và Hyundai đều được đánh giá rất triển vọng. Đề xuất miễn thuế tiêu thụ đặc biệt phần giá trị tạo ra trong nước của Bộ Tài chính nếu đi vào hiện thực sẽ khiến giá bán xe giảm thêm hàng trăm triệu.

Viễn cảnh ôtô hóa thêm rõ ràng qua lễ khởi công dự án VINFAST. Tại buổi khởi công dự án, Vingroup cam kết hỗ trợ và hợp tác với các nhà sản xuất Việt Nam để cùng sản xuất và phát triển các linh kiện, từng bước đạt được tỷ lệ nội địa hóa 60%.

Vingroup cho hay họ có dây chuyền khép kín trong chuỗi, từ việc làm vỏ, động cơ, dập ép đến sơn xe, lắp ráp. Nếu làm được, Vingroup sẽ là đơn vị đầu tiên sản xuất động cơ ôtô tại Việt Nam. Tổng mức đầu tư cho dự án, theo công bố của ông Lê Văn Thành, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, là 35.000 tỷ đồng.

Một tháng sau lễ khởi công, VINFAST vừa công bố 20 mẫu thiết kế cho dòng xe sedan và SUV của hãng để nhận góp ý từ phía người tiêu dùng.

O3Một thiết kế sedan do Ital Design thực hiện cho VINFAST. Ảnh: Vingroup.

Bàn về vấn đề này, chuyên gia Ngô Trí Long phân tích để đạt được những tham vọng đề ra, Vingroup cần hội tụ đủ 3 yếu tố, đó là dung lượng thị trường phải đủ lớn, cơ chế chính sách tốt, ổn định và doanh nghiệp hoạt động phải hiệu quả.

Ông Long nói thêm: "Trong hoạt động hiệu quả lại có 3 yếu tố khác. Thứ nhất là nền tảng, cơ sở vững chắc, có nghĩa đảm bảo về mặt chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực ôtô. Thứ hai là công nghệ. Và cuối cùng là chiến lược kinh doanh tốt. Khi nào đủ 3 yếu tố, doanh nghiệp kinh doanh ôtô mới có thể trụ vững".

Theo chuyên gia này, VINFAST chưa có kinh nghiệm, tiềm lực tài chính cũng chưa hẳn mạnh, điều quan trọng quyết định thành công là phải có chiến lược đúng đắn. Tham vọng sản xuất xe nội địa 60% trong vài năm tới được đánh giá là rất khó thực hiện, trong bối cảnh tỷ lệ nội địa hóa của một chiếc xe con ở Việt Nam hiện mới chỉ đạt 10-15% sau mấy chục năm hưởng ưu đãi.

"Ôtô giá rẻ vẫn là giấc mơ, rất khó trở thành hiện thực trong tương lai gần bởi chính sách các ngành xung đột lẫn nhau. Bộ Công Thương muốn phát triển ngành ôtô nhưng hạ tầng còn yếu kém, còn Bộ Tài Chính muốn đảm bảo nguồn thu", chuyên gia Ngô Trí Long nhận định.

O4Tắc đường tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ảnh: Lê Quân.

Một vấn đề khác cũng liên quan đến việc giấc mơ ôtô của nhiều người Việt có sớm thành hiện thực hay không, đó là hạ tầng giao thông. Theo số liệu đưa ra trong buổi hội thảo tại Hà Nội hôm 26/9, tình hình ùn tắc giao thông đã có biến chuyển tích cực tại Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, trong năm 2016, Hà Nội vẫn còn 46 điểm ùn tắc, TP.HCM 18 điểm.

Bài học từ các nước láng giềng đi trước cũng cho thấy hệ quả xấu của việc ôtô hóa. Bangkok (Thái Lan) và Jakarta (Indonesia) đang đứng thứ 2 và 3 trong danh sách những thành phố tắc nghẽn giao thông nhất thế giới năm 2016, theo số liệu khảo sát tại 390 thành phố ở 48 quốc gia.

"Nói chung ai cũng nhìn thấy vấn đề phải phát triển hạ tầng giao thông, nhưng cần cơ chế, chính sách và cách thực hiện đồng bộ để đạt hiệu quả. Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đang rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, mãi không chịu lớn. Thị trường ôtô trong tương lai gần có tăng, nhưng không có đột phá. Thuế nhập khẩu giảm dẫn tới giảm nguồn thu, các bộ ngành sẽ tìm cách tăng nguồn thu dựa trên các loại thuế khác. Sở hữu ôtô là rất chính đáng, nhưng đừng 'mơ' ôtô giá rẻ như các nước trong khu vực, chỉ nên 'mơ' giá xe rẻ hơn so với trước đây", PGS. TS Ngô Trí Long kết luận.

* Nguồn: Zing News

Chuỗi cửa hàng tiện lợi lớn nhất thế giới 7-Eleven sáng nay (15/6) đã chính thức khai trương cửa hàng đầu tiên tại Việt Nam ở tòa nhà Saigon Trade Center (TPHCM).

7 e

Chuỗi cửa hàng tiện lợi 7-Eleven được thành lập vào năm 1927 và hiện có hơn 62.000 cửa hàng trên thế giới. Với việc mở cửa hàng đầu tiên hôm nay, Việt Nam là thị trường thứ 19 của chuỗi cửa hàng tiện lợi 90 tuổi này. Theo đó, 7-Eleven đặt mục tiêu mở 20 cửa hàng trong năm nay và 200 cửa hàng trong vòng 3 năm tới tại Việt Nam.

Công ty Cổ phần Seven System Việt Nam (SSV) là đơn vị được nhượng quyền độc quyền 7-Eleven tại Việt Nam (master franchisee). Trước đó, trang tin Nikkei của Nhật từng đưa tin rằng công ty con của Seven & i Holdings (trụ sở Nhật) là 7-Eleven Inc. (Mỹ) đã ký kết hợp tác với công ty IFB Holdings của Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn Nhịp Cầu Đầu Tư, ông Vũ Thanh Tú, Tổng Giám đốc SSV cho biết công ty do người Việt sở hữu 100%. "SSV đã phải đáp ứng được quy trình toàn cầu của 7-Eleven Inc. và Seven-Eleven Japan trước khi nhận được sự chấp thuận phát triển hệ thống 7-Eleven", ông Tú nói.
"Tại thời điểm này, tất cả các cửa hàng sẽ đều được sở hữu bởi công ty chúng tôi và đó là điều rất quan trọng", ông nói.
"Chúng tôi phải xây dựng mọi thứ từ đầu. Để có thể nghĩ tới việc nhượng quyền, 7-Eleven phải đảm bảo hệ thống vận hành tốt, đảm bảo có lãi và trong tương lai các đối tác nhượng quyền cũng phải có lãi. Cho nên trước khi nhượng quyền thì phải mất một thời gian và tôi chưa thể nói được là khi nào", vị CEO SSV cho biết.

Hiện nhượng quyền là mô hình mà 7-Eleven đang thực hiện ở các thị trường như Nhật, Mỹ - nơi có số cửa hàng 7-Eleven nhượng quyền chiếm khoảng 80%. Số cửa hàng nhượng quyền của 7-Eleven tại Thái Lan cũng chiếm tới gần 50%.

Tuy vậy, một trong những khó khăn lớn nhất của SSV khi mở cửa hàng ở Việt Nam là tìm được địa điểm tốt.
"Là công ty mới vào, chúng tôi gặp nhiều khó khăn trong việc tìm địa điểm có đủ không gian để thực hiện chiến lược của mình. Thứ nhất là tiện lợi. Thứ hai là phải có đủ chỗ cho mọi người ngồi ăn và làm sao để biết được khách hàng muốn gì", ông Tú nói. Vị này cho biết, 7-Eleven bắt đầu giả thuyết khách hàng sẽ muốn cái này cái kia. "Cuối cùng thì chúng tôi vẫn phải tìm cách hiểu, nói chuyện và kết nối với khách hàng, để tìm cách thay đổi. Đó là lý do vì sao chúng tôi tập trung vào ứng dụng 7Rewards. Đó là một trong những thách thức để làm sao lắng nghe khách hàng và tìm cách thay đổi."

Một thách thức khác là 7-Eleven phải nghiên cứu xem khách hàng sẽ cần mua những thứ gì trong cả ngày, ông cho biết.
Trả lời câu hỏi về việc SSV có xây dựng công ty thực phẩm riêng để tự cung cấp như 7-Eleven đã làm ở Thái Lan, ông Tú cho biết trong giai đoạn đầu sẽ chỉ làm việc với các đối tác. "7-Eleven đã tìm ra những đối tác để làm việc trong hệ thống này, để cung cấp, làm ra thực phẩm sạch cho cửa hàng. Chúng tôi muốn tập trung vào việc bán thức ăn ngon chứ không phải sản xuất hay cung cấp thực phẩm. Đó là cách làm của 7-Eleven toàn cầu".

7 11

"7-Eleven là một trong những thương hiệu lớn cuối cùng vào Việt Nam. Chúng tôi phải tìm cách tạo ra sự khác biệt, và chúng tôi chọn thực phẩm tươi là một phần quan trọng trong chiến lược ở Việt Nam", vị CEO này nói. 7-Eleven xây dựng thực đơn có nhiều món ăn mà người Việt đã quen để có thể thu hút các khách hàng bản địa, như xôi, chè, gỏi cuốn, thịt kho trứng, bánh mì, và có cả hột vịt lộn.

"Những công ty khác đang bán những thứ mà họ nghĩ là sẽ bán được nhưng chúng tôi thì lại muốn hiểu khách hàng Việt Nam muốn gì", ông Tú nói, và cho biết SSV đã thành lập từ hai năm trước để tìm hiểu thị trường này.

"Việc tìm hiểu xem mọi người muốn gì rất tốn thời gian nhưng việc tìm ra đối tác sản xuất thực phẩm tươi đó còn mất thời gian hơn nữa. Đồ ăn của chúng tôi được nấu hằng ngày và được giao tới cửa hàng vào mỗi buổi sáng".

Theo ông Tú: "Tiềm năng của thị trường Việt Nam rất lớn. Dân số Việt Nam rất trẻ và sẵn sàng thử cái mới. Tôi nghĩ đó là một lợi thế lớn cho 7-Eleven và chúng tôi cũng rất sẵn lòng tung ra những sản phẩm mới và sáng tạo".

Trong sự kiện ra mắt lần này, 7-Eleven cũng ra mắt ứng dụng di động 7Rewards. Trả lời phỏng vấn của Nhịp Cầu Đầu Tư, ông Bùi Hải An, người đồng sáng lập kiêm Giám đốc vận hành của Silicon Straits Saigon - nhà cung cấp giải pháp công nghệ cho 7-Eleven Việt Nam, cho biết rằng 7Rewards là bước đi đầu tiên trong việc xây dựng cửa hàng tiện lợi hiện đại và mọi thứ sẽ xoay quanh smartphone.

7 11 copy

Theo ông An, trước khi 7-Eleven Việt Nam chính thức khai trương, ứng dụng này đã đạt vài ngàn lượt tải về, và kỳ vọng sẽ đạt con số 20-30.000 lượt tải trong vài tuần đầu khai trương. Ngoài việc tích điểm, ứng dụng này cũng có chức năng làm khảo sát, phản hồi và tương tác giúp 7-Eleven.
Ngoài 7Rewards, 7-Eleven cũng đang có nhiều phần mềm ứng dụng đằng sau để hỗ trợ hoạt động của các cửa hàng. Bên cạnh đó, 7-Eleven sẽ tiến tới tích hợp khả năng thanh toán vào ứng dụng này, ông An cho biết.

"7-Eleven được sinh ra ở Mỹ nhưng người Nhật mới là người làm cho nó hoàn hảo. Họ đã xây dựng một hệ thống được vận hành và điều phối tốt. Chính người Nhật đã nghĩ ra hệ thống làm việc chung với các đối tác", ông Vũ Thanh Tú nói, và cho rằng điều lớn nhất mà công ty ông học được từ 7-Eleven Nhật Bản là cách xây dựng một hệ thống để kết nối mọi thứ cùng nhau.

Trường Văn

Qua nhiều năm làm việc với các công ty trong lĩnh vực hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), càng ngày tôi càng nhận ra đam mê của mình là sáng tạo ra những công nghệ giúp cho doanh nghiệp có thể vận hành hiệu quả hơn. Sự hiệu quả ấy nằm ở việc con người được giải phóng khỏi những nhiệm vụ nhàm chán lặp đi lặp lại, dành thời gian cho những nhiệm vụ sáng tạo.

Đối với những doanh nghiệp mà vRoute đã có dịp cộng tác, chúng tôi đặc biệt vui mừng khi chứng kiến sự thay đổi trong cách họ phân phối hàng hóa và nhân công. Cách đây một năm, tôi đã theo dõi một chương trình về Quản lý Chuỗi cung ứng. Những minh họa chân thực trong video đó thực sự thu hút và khiến tôi không ngừng nghĩ về ý tưởng tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp thực chất đều là một phần của Quản lý Chuỗi cung ứng.

Hình dung của tôi về một nhà phân phối bán lẻ năm 2020:

– Các nhà phân phối nhỏ sẽ nhập hàng trực tiếp từ website của nhà sản xuất. Hàng hóa sẽ được giao đến tay họ vào cùng ngày hoặc trong ngày hôm sau.

– Việc giao hàng được số hóa hoàn toàn. Nhà quản lý có thể theo dõi từng mã hàng bất cứ lúc nào, dù là giữa đêm hay ban ngày khi chúng đang trên đường đi giao.

– Việc giao hàng được tối ưu hóa bằng những ứng dụng như vRoute. Tối ưu tuyến đường giao hàng vốn là một vấn đề nóng và là chủ đề của hàng trăm luận án tiến sĩ. Đây không phải một bài toán mà công nghệ có thể giải quyết trong một sớm một chiều. Sự tối ưu sẽ giảm từ 20% đến 40% chi phí logistics và tận dụng được tối đa nguồn nhân công giao hàng.

– Tối ưu kho hàng tự động là bước tiếp theo, chúng tôi sẽ bàn sâu hơn ở bài viết tới.

– Để quá trình tối ưu hóa hiệu quả hơn, drone và ô tô không người lái sẽ lấp đầy những lỗ hổng do con người gây nên.

2020

Cơ sở hạ tầng phân phối trên thế giới, từ năm 2000 cho đến nay?

Sự phát triển diễn ra không đồng đều trên thế giới, từ Mỹ, Châu Âu đến Đông Nam Á. Mỹ vẫn là thị trường ô tô nổi tiếng với hệ thống đường bộ hiện đại kết nối tất cả các thành phố. Ngược lại, ở châu Âu, các quốc gia lại được liên kết bằng hệ thống phương tiện công cộng tiện lợi. Các thành phố được xây dựng trên những cơ sở hạ tầng tồn tại hàng thế kỉ.

Vậy còn các nước Đông Nam Á? Có một khoảng cách phát triển rất lớn giữa các quốc gia. Đối với những xã hội nhỏ nhưng được tổ chức hiệu quả như Singapore, chúng ta có thể dễ dàng tìm đường bằng Google Maps và di chuyển bằng ô tô. Tuy nhiên, đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, Phillipines hay Indonesia, rất nhiều vấn đề còn tồn tại. Đầu tiên là sự hiện diện một lượng lớn xe máy giúp chúng trở thành phương tiện giao hàng hiệu quả và linh hoạt nhất. Lí do là bởi làn đường dành cho xe máy rất gần vỉa hè và các tay lái có thể vươn lên đó để vượt lên khỏi dòng lưu thông ách tắc. Vấn đề thứ hai nằm ở hệ thống đánh số nhà quá khó hiểu, chẳng hạn như số 35 lại nằm ngay sát số 57 trên phố Láng Hạ, hay nỗ lực cần phải bỏ ra để tìm địa chỉ 1806/127/2/6/15/48/2A Khu 6 Nhà Bè mà thực ra là ngõ 1806 của Khu 6.

Vấn đề này có thể hướng chúng ta đến một số giải pháp: (1) là chính quyền phải sắp xếp lại hệ thống đánh số nhà, hoặc (2) các công ty dịch vụ phải tự bổ sung thông tin cần thiết về từng địa chỉ giao hàng, hoặc (3) các dịch vụ bản đồ trực tuyến như Google Maps hay Bing phải tìm cách để đưa ra những chỉ dẫn hiệu quả hơn. Cuối cùng thì, ai sẽ trả tiền cho những giải pháp này?

Tương lai của hệ thống phân phối sẽ như thế nào, tới năm 2020, 2030 và 2050?

Những gì tôi hình dung về hệ thống phân phối ở Đông Nam Á từ nay đến năm 2020 là quy trình số hóa toàn bộ: từ sản xuất, đóng gói, vận chuyển, kho, kế toán đến bán hàng và tiếp thị với con người là trung tâm điều khiển mọi hoạt động. Khi ấy, những phần mềm như vRoute của chúng tôi sẽ phát huy tối đa hiệu quả. Chúng tôi tối ưu quá trình giao hàng theo cách mà chỉ cần 10 so với 14 nhân viên giao hàng kiểu cũ là có thể giao hết số hàng cần giao. Cách thức giao hàng hiện nay vẫn bị cố định đường đi, địa chỉ và khó thích nghi với những thay đổi tức thời. Chúng tôi cũng tối ưu hóa quản lý tồn kho của các trung tâm phân phối để đảm bảo không có chuyện đơn hàng bị từ chối vì hết hàng. Lợi ích kinh tế của việc áp dụng giải pháp này là rất lớn. Nhiều nhà phân phối áp dụng giải pháp quản lý tồn kho tối ưu đã giảm mức độ tồn kho xuống 25% trong một năm và hưởng dòng tiền chiết khấu trên 50% sau hai năm.

Nhìn xa hơn đến 5 năm tiếp theo từ năm 2020 đến năm 2025, hệ thống robot và máy bay không người lái sẽ nhanh chóng vào cuộc. Tôi đặc biệt hứng thú với ô tô không người lái. Sản phẩm này tập hợp tất cả những ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất trong lĩnh vực Trí tuệ Nhân tạo và Robot. Khâu vận chuyển cuối cùng (last-mile delivery) sẽ do robot hoặc máy bay không người lái đảm nhiệm. Nhờ thế, chúng ta không còn chịu tổn thất do con người gây nên.

Làm thế nào để giảm chi phí nhân công và điều hành trong phân phối? Chi phí phân phối bao gồm: tiền công cho người giao hàng, chi phí lưu trữ hàng trong kho.

Chúng ta làm gì để hướng đến tương lai?

Chúng ta cần có sự phối hợp đồng bộ. Đầu tiên, các nhà sản xuất – thường là các doanh nghiệp đa quốc gia như P&G hoặc Coca-Cola – cần có bộ tiêu chuẩn xây dựng đối với một nhà máy đầy đủ chức năng. Quá trình sản xuất hàng hóa từ nguyên liệu thô cho đến sản phẩm cuối cùng phải được số hóa hoàn toàn. Đây là điều tiên quyết để chúng ta đi đến bước tiếp theo. Đó là các nhà phân phối hoặc các doanh nghiệp bán lẻ như siêu thị cần phải áp dụng 3 nguyên tắc làm việc dựa trên dữ liệu: đưa ra quyết định dựa theo dữ liệu thay vì ý kiến chủ quan, tối ưu hệ thống dữ liệu để các cấp quản lý có thể truy cập bất cứ lúc nào, thiết lập chính sách quy định khiến con người buộc phải làm việc hiệu quả.

*Sưu tầm*

Cứ 5 phút được tiêu tốn trên thế giới số thì 1 phút được dành cho mạng xã hội. Một thế hệ khách hàng mới đã được hình thành, và danh từ “mạng xã hội” giờ đây đã trở thành tính từ thể hiện đặc tính riêng biệt và khác biệt của thế hệ mới này.

Để lớn mạnh trên thị trường hiện nay, tiếp cận và thu hút thế hệ trẻ là vấn đề doanh nghiệp phải quan tâm. Theo nhiều nghiên cứu, giải pháp hiệu quả nhất chính là sự kết hợp công nghệ tiên tiến với các giá trị truyền thống.