Nghịch lí nông sản Việt: xuất khẩu càng lớn thương hiệu càng nhạt nhòa

Dù Nhà nước luôn có chính sách quan tâm hỗ trợ việc xây dựng thương hiệu nông sản trong nước

giúp sản phẩm tăng tính cạnh tranh và có chỗ đứng trên thị trường, gia tăng xuất khẩu, nâng cao giá trị. Nhưng những nỗ lực này vẫn chưa đạt yêu cầu, dù nhiều hàng hóa nông sản Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Doanh nghiệp khó xây dựng thương hiệu

Cà-phê bột Đắk Hà của Công ty Xuất nhập khẩu Cà-phê Đắk Hà là sản phẩm đầu tiên của Việt Nam được tổ chức quốc tế UTZ Certified trao chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế về trách nhiệm và thân thiện với môi trường. Đây cũng là một trong những thương hiệu đầu tiên của ngành cà-phê trong nước lọt vào top 500 sản phẩm dịch vụ hàng đầu Việt Nam vào năm 2012. Dù đã được công nhận sản phẩm đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo đảm sức khỏe cho cộng đồng, nhưng đến nay, mục tiêu mở rộng phát triển thị trường sản phẩm này vẫn chưa đạt được ý muốn của lãnh đạo doanh nghiệp

Do đang trong giai đoạn sản xuất thử nghiệm nên sản lượng sản phẩm cà-phê bột Đắk Hà chỉ đạt 40 tấn. Để xuất khẩu bền vững, ít nhất phải đạt khoảng 3.000 tấn/năm, vì vậy doanh nghiệp cần nguồn vốn lớn để làm bài bản từ khâu làm chỉ dẫn địa lý thương hiệu đến mở rộng kênh phân phối. Nhưng đến nay, khó khăn trong khâu vay vốn là một trong những trở ngại khiến doanh nghiệp không thể thực hiện được mục tiêu phát triển sản xuất.

Muốn phát triển nhưng thiếu vốn chỉ là một trong muôn ngàn trở ngại để doanh nghiệp cà-phê Đắk Hà cũng như nhiều doanh nghiệp cà-phê khác trong nước có thể phát triển thương hiệu bền vững. Hiện nay, do thói quen và yếu tố lịch sử, phần lớn cà-phê tiêu thụ trong nước là cà-phê pha nhiều chất (tỷ lệ cà-phê in trung bình chỉ 1%, chỉ đạt 10-20% tiêu chuẩn quốc tế UTZ). Các nhà chế biến, kể cả những nhà sản xuất có thương hiệu, cũng trộn bắp, đậu, chưa kể chất tạo mùi, vị, chất tạo bọt, khử chua và bảo quản... nhằm chạy theo lợi nhuận và đánh lừa khẩu vị người tiêu dùng. Việc phân biệt giữa cà-phê nguyên chất với cà-phê độn, cà-phê hóa chất chưa được phổ biến, nên người tiêu dùng vẫn quen sử dụng cà-phê không có thương hiệu, không có nhãn mác rõ ràng và chất lượng thấp. Đó là những nguyên nhân khiến thương hiệu cà-phê Việt khó ra đời, khó tồn tại. Chưa kể đến chuyện phải cạnh tranh với thương hiệu nước ngoài có lợi thế về vốn, công nghệ, kinh nghiệm thương trường để quảng bá và thiết lập kênh phân phối chiếm lĩnh thị trường trong nước.

export

Ông Nguyễn Hòa Chính, Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu cà-phê Đắk Hà, cho biết: "Nếu làm cái mình có sẽ không bán được, còn nếu làm theo thị trường cần thì sẽ khó bảo vệ được thương hiệu. Nếu doanh nghiệp không có hỗ trợ từ phía Nhà nước thì không thể nào làm được, vì nếu làm nhiều mà không có đầu ra thì ai dám làm. Muốn phát triển thị trường mà không có vốn thì cũng không ai làm được. Đó là vòng luẩn quẩn khiến doanh nghiệp khó xây dựng thương hiệu".
Thanh Long có xuất xứ từ Việt Nam nhưng thế gới nhầm tưởng là loại cây đặc hữu của TháiThanh Long có xuất xứ từ Việt Nam nhưng thế gới nhầm tưởng là loại cây đặc hữu của Thái.
"Ăn xổi" xuất khẩu

Không giống như cà-phê, ngành sản xuất lúa gạo cũng đang gặp những khó khăn riêng khi xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị trên thị trường. Theo TS Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), hiện nay, Việt Nam là nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo trên thế giới nhưng phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu gạo không thu mua lúa tại ruộng, mà mua gạo rồi trộn vào để xuất khẩu. Phần lớn lúa trên ruộng là do thương lái thu mua của nông dân.

Do đó, doanh nghiệp không nắm được đầu vào mà chỉ biết đầu ra đạt bao nhiêu phần trăm tấm. Nếu doanh nghiệp làm bài bản thì sẽ có vùng nguyên liệu, có chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm. Nông dân sản xuất lúa theo đúng tiêu chuẩn thì chất lượng gạo đồng đều, từ đó mới nâng cao được chất lượng và giá trị gạo xuất khẩu. Có không ít những mô hình "cánh đồng mẫu" thay đổi hẳn cách nhìn của nông dân về cách thức trồng lúa nâng cao giá trị. Đơn cử như Công ty CP & TM Viễn Phú - Green Farm đầu tư xây dựng cánh đồng rộng 320 ha trồng lúa nước theo tiêu chuẩn quốc tế. Sản phẩm là các loại gạo hữu cơ chức năng như: Hoa sữa đen, Hoa sữa tím, Hoa sữa đỏ, Hoa sữa trắng... Các loại gạo trên đều đạt chuẩn hạt gạo dài, mầu sắc rất hấp dẫn, mùi vị đặc biệt cho từng chuẩn loại và chất lượng dinh dưỡng cao hơn loại gạo thông thường, có chức năng hỗ trợ điều trị tốt một số loại bệnh. Các loại gạo này được các doanh nghiệp nước ngoài thu mua với giá cao hơn gạo thông thường 5 - 8 lần, khoảng 3.000 USD/tấn.

Dù biết xây dựng thương hiệu là đòi hỏi tất yếu đối với sản phẩm lúa gạo, nhưng TS Lê Văn Bảnh cũng cảnh báo những rủi ro khi chạy đua xây dựng thương hiệu trong giai đoạn hiện nay: "Việc xây dựng thương hiệu cũng là con dao hai lưỡi nếu doanh nghiệp làm ăn lôm côm, thiếu chiến lược bài bản. Khi có thương hiệu trên thị trường, doanh nghiệp phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của mình. Nếu chất lượng không bảo đảm sẽ dễ bị kiện và bị đối thủ cạnh tranh đè bẹp. Lô hàng này khác lô hàng kia thì sẽ bị tẩy chay. Do đó, nếu vội vã, doanh nghiệp sẽ tự giết mình. Để làm thương hiệu thành công, phải làm bài bản, đúng tiêu chuẩn mới cạnh tranh và tồn tại được".

Đó cũng là trăn trở của TS Võ Hữu Thoại, Phó Chủ tịch Viện Cây ăn quả miền nam, hiện nay Việt Nam chưa có những doanh nghiệp đủ tầm xuất khẩu. Ngay ở khu vực ĐBSCL có nhiều vùng trồng trái cây nhưng cũng chưa có doanh nghiệp xuất khẩu có uy tín, mà việc xuất khẩu chủ yếu xuất qua doanh nghiệp trung gian chứ không xuất trực tiếp. Vì thế, giá trị mang lại cho người nông dân giảm. Thậm chí người dân còn bị các thương lái "o ép" giá tại vườn. Trên thương trường, có chuyện nhà thu mua đến xem hàng hóa và chụp ảnh lại giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VIETGAP nhưng không mua sản phẩm này mà lại mua sản phẩm tương tự chưa được chứng nhận tiêu chuẩn. Đây là hình thức làm ăn gian dối khiến nông dân sản xuất chân chính bị thiệt thòi rất nhiều. Và cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều HTX được chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn VIETGAP, nhưng vẫn bế tắc trong khâu tiêu thụ, làm giảm niềm tin của nông dân.
Tăng "liên kết bốn nhà"

Theo các chuyên gia, để hoạt động xây dựng thương hiệu cho nông sản hướng đến mục tiêu bền vững, cần tăng cường liên kết "bốn nhà" trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Doanh nghiệp cần chủ động mở rộng kênh tiêu thụ, chủ động đặt hàng và tư vấn, hỗ trợ nông dân sản xuất hàng hóa đạt chất lượng. Doanh nghiệp phải bao tiêu sản phẩm cho nông dân và chú trọng đầu tư kho chứa, nhà máy chế biến giúp nông dân bảo quản sau thu hoạch. Tuy nhiên, để thực hiện được việc này, doanh nghiệp cần nguồn vốn lớn, do đó Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ vốn vay cho doanh nghiệp.

Theo TS Võ Hữu Thoại, để xây dựng thương hiệu, bắt buộc doanh nghiệp xuất khẩu phải có vùng nguyên liệu, vùng chuyên canh sản phẩm xuất khẩu. Doanh nghiệp phải ký kết hợp tác bao tiêu sản phẩm cho nông dân thì chắc chắn sẽ có lượng sản phẩm ổn định mà chất lượng cũng bảo đảm hơn. Để đạt hiệu quả liên kết, cần phải thiết lập "cánh đồng mẫu lớn", nhiều nhà vườn sản xuất theo nhóm. Do đó, cần xây dựng mô hình HTX sản xuất để tập hợp nông dân sản xuất theo chuẩn.

Ông Nguyễn Hòa Chính cho rằng, cũng như những nông sản khác, mỗi vùng miền có những đặc sản riêng theo điều kiện tự nhiên và kỹ năng sản xuất, chế biến của vùng đó. Nhà nước phải lựa chọn và có cơ chế trong việc xây dựng chỉ dẫn địa lý cho từng vùng sản xuất danh tiếng trên cơ sở chứng cứ khoa học về điều kiện tự nhiên cũng như chất lượng của sản phẩm. Chính quyền địa phương hoặc hiệp hội ngành nghề phải quản lý chỉ dẫn địa lý, đăng ký độc quyền cũng như cấp phép cho các doanh nghiệp làm thương hiệu. Có như thế thương hiệu mới không bị đánh cắp. Việc xây dựng và phát triển thương hiệu đủ mạnh để phát triển chiếm lĩnh thị phần và bao tiêu đầu ra cho sản phẩm là quá trình đầu tư dài hạn, phải mất hàng chục năm. Vì thế, Nhà nước cần có cơ chế và giải pháp về vốn, công nghệ và xúc tiến thương mại phù hợp.
Từ Anh Tuấn
Nguồn: Thời Nay