Kinh doanh theo phong trào

Việc trước đây doanh nghiệp rút ào ra khi hết cơ hội kiếm lời đang ảnh hưởng rất lớn tới các kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế. Đua nhau lập công ty chứng khoán thời thị trường bùng nổ là điển hình của kiểu kinh doanh theo bầy đàn của các doanh nghiệp Việt.

Sự biến động về số lượng doanh nghiệp đăng ký mới và rút lui trong một số ngành nghề đang diễn ra một cách mạnh mẽ. Điều đáng nói là sự đầu tư hay thoái lui ồ ạt của các doanh nghiệp đều theo phong trào.

Chiến lược đàn kiến

Trong báo cáo của bà Nguyễn Hồng Liên, Giám đốc Trung tâm thông tin hỗ trợ doanh nghiệp (Cục Phát triển doanh nghiệp – Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại Diễn đàn Phát triển doanh nghiệp và Chất lượng tăng trưởng vừa được tổ chức tại Hà Nội ngày 8/4, giải thích cho hiện tượng trên là tiến trình tái cơ cấu của các doanh nghiệp trong các ngành hiện đang diễn ra mạnh mẽ. Đơn cử như so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp mới tham gia vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,3%, trong khi số rút lui là 3,7%. Tỷ lệ này tương ứng trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ là 23,9 và 10,1%... Trong lĩnh vực xây dựng, số doanh nghiệp mới giảm 3,7% trong khi số rút lui tăng 12%.

Đặc biệt, ngành ngân hàng, tài chính và bảo hiểm ghi nhận sự rút lui rất lớn của các doanh nghiệp, lên tới 58,6%, trong khi số doanh nghiệp mới tham gia lại giảm 5,4% so với năm 2012.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào cũng sự biến động này của năm 2009, sự chuyển dịch lớn nhất về vốn và lao động lại rơi vào các ngành tài chính, ngân hàng, kinh doanh bất động sản hay xây dựng. Có thể thấy rõ, trong hai xu thế đảo ngược trong chiến lược kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Việt Nam, điểm chung là sự ồ ạt đầu tư hay thoái lui theo phong trào.

Không những thế, theo phân tích của bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khi trao đổi về Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2013 cũng được công bố ngày 8/4, chiến lược kinh doanh theo kiểu đàn kiến này cho thấy các doanh nghiệp đang rất lúng túng trong việc định vị chiến lược kinh doanh của mình. "Doanh nghiệp muốn tái cơ cấu được thì công việc đầu tiên là định vị mình để xây dựng chiến lược kinh doanh, từ đó mới tính đến việc huy động nguồn lực, cổ phần hóa, mua bán, sáp nhập... Tuy nhiên, sự chuyển dịch lĩnh vực ngành nghề kinh doanh thời gian vừa qua chủ yếu là do khả năng sinh lời", bà Hằng chia sẻ và lo ngại rằng, cách chuyển dịch này đang ảnh hưởng rất lớn tới kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế.

Cũng phải nói thêm, sự chuyển dịch ngành nghề này cũng được dự báo sẽ tiếp tục khi hiện nay có tới 3/4 tổng số lao động đang tập trung trong ba lĩnh vực: công nghiệp chế biến; xây dựng và thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy. Nhưng đây lại đang là những ngành có tỷ lệ hàng tồn kho cao.

Sự nhanh chân của doanh nghiệp FDI

Mở màn cho bài thuyết trình về Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2013, bà Hằng đã nhắc lại câu hỏi mà các doanh nghiệp đặt ra cho nhóm nghiên cứu, đó là các doanh nghiệp đang muốn xây dựng một chiến lược kinh doanh mới phù hợp với giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế, để có thể tận dụng tốt nhất các lợi thế của địa phương, của vùng nhưng họ không biết các lợi thế đó cụ thể là gì và đang có chính sách hỗ trợ cụ thể ra sao khi họ định vị cho doanh nghiệp vào những ngành được xác định là lợi thế đó. "Dường như các nhà hoạch định chính sách đang bỏ quên chúng tôi trong các kế hoạch tái cơ cấu ngành, lĩnh vực hay các chiến lược phát triển vùng... Các doanh nghiệp đã nói với chúng tôi như vậy", bà Hằng chia sẻ. Có thể nhắc tới sự phát triển cụm ngành công nghiệp như một ví dụ điển hình. Mặc dù khái niệm cụm ngành công nghiệp (industrial cluster) đã được nhắc tới khá lâu như một mô hình cần phải thực hiện để tạo động lực cho sự phát triển kinh tế vùng, song theo bà Hằng, mô hình này chưa bao giờ là đối tượng của bất kỳ chính sách xúc tiến chính thức nào.

Ngay cả sự lựa chọn các ngành ưu tiên trong dự thảo Đề án Ưu tiên phát triển các doanh nghiệp thuộc các ngành có lợi thế cạnh tranh cao giai đoạn 2013 – 2020 do Bộ Công Thương đang soạn thảo, mô hình quả mít (lựa chọn quá nhiều ngành mũi nhọn) vẫn đang hiển hiện. "Việc Chính phủ hoạch định ra các chiến lược phát triển các ngành kinh tế nếu chỉ là những ngành Chính phủ muốn mà doanh nghiệp không quan tâm thì sẽ không thu hút được đầu tư và như vậy chiến lược sẽ không thành", bà Hằng nhấn mạnh.

Trong khi đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại đang có sự chuyển dịch ngành nghề kinh doanh vô cùng ấn tượng. Phân tích chuỗi số liệu FDI trong các ngành, lĩnh vực, ông Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phát hiện rằng, các doanh nghiệp FDI đang tận dụng rất tốt lợi thế của Việt Nam, nhất là những cơ hội từ chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp của Việt Nam trong chiến lược kinh doanh của mình. Tổng số vốn FDI đổ vào công nghiệp và xây dựng tăng rất mạnh từ năm 2000, từ khoảng 57,2 lên tới 81,37% vào năm 2012. Trong khi đó, vốn đầu tư vào nông, lâm ngư nghiệp giảm mạnh, từ 11,5% vào năm 2000 xuống còn 3,06% vào năm 2012. Nếu tính theo tỷ trọng đóng góp trong GDP thì xu hướng này cũng tương tự. Trong 20 ngành nghề đứng đầu về tỷ trọng đóng góp trong GDP, vốn FDI chiếm tới 45% tổng số vốn đầu tư. "Có thể thấy, khu vực FDI vận động theo tín hiệu thị trường một cách rất rõ ràng", ông Cung phân tích.

Đặc biệt, sự đổi ngôi trong danh mục các địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất trong vài năm trở lại đây theo ông Cung, không hoàn toàn phụ thuộc vào nỗ lực thu hút đầu tư của các chính quyền địa phương. "Khi Hà Nội, TP.HCM, Bình Dương trở nên quá đắt đỏ, các địa phương xa hơn nhưng có cơ sở hạ tầng thuận lợi sẽ được cân nhắc để đảm bảo được yêu cầu về chi phí sản xuất. Sự có mặt của Samsung tại Bắc Ninh, tiếp đó là Thái Nguyên, trong khi FDI vào miền Đông Nam bộ giảm mạnh là những ví dụ điển hình", ông Cung nói và đặt câu hỏi: tại sao các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cố bám trụ ở các thành phố lớn khi tình hình thị trường đã thay đổi?

Thực tế cho thấy, không thể nói đến một nền kinh tế có mô hình tăng trưởng bền vững nếu không có sự phát triển mạnh mẽ của một cộng đồng doanh nghiệp đủ lớn để kinh doanh có hiệu quả, biết tận dụng những lợi thế cạnh tranh của đất nước, của địa phương và tạo nên được một cơ cấu kinh tế hợp lý. Vấn đề hiện tại là làm thế nào để chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đồng tốc và đồng hướng với chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Theo Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc, chỉ như thế thì sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam mới thực sự là một bộ phận hữu cơ của quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Theo Minh Anh.

Doanh nhân Online.