Sự thật kinh tế Trung Quốc được coi là thứ 2 thế giới

Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc tạo ấn tượng về lượng nhưng yếu về chất, kinh tế Trung Quốc có thực sự mạnh để được coi là thứ 2 thế giới?

Đây là một trong số rất nhiều những nhận định của ông David Shambaugh - Giáo sư về khoa học chính trị và các vấn đề quốc tế, đồng thời là giám đốc của Chương trình Chính sách Trung Quốc tại Trường Quan hệ Quốc tế Elliott, Đại học George Washington.

Ông là nhà nghiên cứu cao cấp không thường trú của Chương trình Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Đông Á tại Viện Brookings. Cuốn sách gần đây nhất của ông có nhan đề "Trung Quốc vươn ra Thế giới: Một Cường quốc Nửa vời" (Nhà xuất bản Trường Đại học Oxford, 2013).

Xin trích đăng nội dung phân tích về kinh tế Trung Quốc của GS. David Shambaugh.

Ấn tượng về lượng, yếu về chất

Sức mạnh kinh tế của nước này tạo ấn tượng về lượng nhưng yếu về chất. Trung Quốc là quốc gia thương mại lớn nhất thế giới, nhưng xuất khẩu của nước này nhìn chung là các mặt hàng tiêu dùng cấp thấp; sản phẩm có hệ thống nhận diện thương hiệu quốc tế kém; chỉ một số ít công ty đa quốc gia của nước này đang hoạt động thành công ở nước ngoài.

Tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Overseas direct investment - ODI) chỉ đứng thứ mười bảy trên thế giới; các chương trình viện trợ nước ngoài của Trung Quốc có quy mô nhỏ hơn so với các chương trình của những nước như Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hoặc Ngân hàng Thế giới.

Khi đánh giá về định tính thay vì định lượng, hồ sơ kinh tế toàn cầu của Trung Quốc không phải quá ấn tượng. Đây vẫn là một nền kinh tế gia công và lắp ráp – không phải nền kinh tế phát minh và sáng tạo. Hầu hết các loại hàng hóa được lắp ráp hoặc sản xuất tại Trung Quốc để phục vụ xuất khẩu đều được phát minh ở những nơi khác.

Nạn ăn cắp bản quyền trí tuệ tràn lan ở Trung Quốc cùng các chương trình của chính phủ nhằm thúc đẩy "sự sáng tạo trong nước" (hàng năm chi hàng tỷ USD vào công tác nghiên cứu và phát triển trong nước) đã cho thấy rõ việc Trung Quốc thất bại trong hoạt động sáng tạo.

Tương tự như vậy, Trung Quốc chỉ có hai trường đại học lọt vào danh sách hàng trăm trường hàng đầu trên thế giới, theo Bảng xếp hạng các Trường Đại học năm 2013-2014 của tạp chí Times Higher Education.Điều này có thể, và có khả năng sẽ, thay đổi theo thời gian nhưng cho đến nay, Trung Quốc vẫn không thiết lập được các tiêu chuẩn toàn cầu trong gần như tất cả ngành công nghệ hoặc dây truyền sản xuất (hoặc trong các ngành khoa học tự nhiên, y học, khoa học xã hội hoặc nhân văn).

Nếu Trung Quốc muốn thúc đẩy sự sáng tạo, nước này tất nhiên phải đầu tư nhiều hơn cho công tác nghiên cứu và phát triển. Theo Quỹ Khoa học Quốc gia, trong năm 2009 Trung Quốc chỉ chi có 1,7% GDP của mình cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, ít hơn so với con số 2,9% của Mỹ, 2,8% ở Đức và hơn 3,3% ở Nhật Bản.

"Đầu tư nghiên cứu" trong ngân sách nghiên cứu và phát triển của Trung Quốc thậm chí không đưa Trung Quốc vào danh sách hai mươi quốc gia hàng đầu trên thế giới, người ta ước tính khoảng 80% kinh phí được dùng cho phát triển sản phẩm và chỉ có 5% trong số này được dùng cho nghiên cứu cơ bản.

Việc Trung Quốc thiếu các Giải thưởng Nobel của cũng là dấu hiệu đáng chú ý. Từ năm 1949 đến 2010, có tổng số 584 Giải thưởng Nobel đã được trao. Người Trung Quốc giành mười giải thưởng trong số này (tám trong số đó là về khoa học), nhưng tám trong số mười người đoạt giải Nobel lại đang làm việc ở bên ngoài Trung Quốc.

Hai trường hợp ngoại lệ là giải Nobel Hòa bình năm 2010 của Lưu Hiểu Ba và giải Nobel văn học của Mạc Ngôn năm 2011. Việc trích dẫn trên các tạp chí chuyên đề cũng là một dấu hiệu khác. Trong số lượng các bài viết được trích nhất nhiều nhất trên thế giới (ở tất cả các chuyên ngành học thuật), học giả Trung Quốc chỉ chiếm có 4% - trong khi người Mỹ chiếm tới 49%.

Kết quả của căn bệnh "thâm hụt sáng tạo" mãn tính của Trung Quốc khiến nước này hiện bị đẩy vào cái "bẫy thu nhập trung bình" đầy nguy hiểm. Cách duy nhất thoát khỏi tình cảnh này là thông qua con đường đổi mới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan đã chứng minh trước đây.

Và điều này đòi hỏi chính phủ Trung Quốc phải đầu tư nhiều hơn vào hoạt động nghiên cứu và phát triển - nó cần một hệ thống giáo dục dựa trên lối tư duy phê phán và tự do nghiên cứu.

Nói cách khác, điều này đòi hỏi hệ thống chính trị tương đối cởi mở và dân chủ, không cho phép kiểm duyệt hoặc tồn tại những "vùng cấm" trong nghiên cứu.

Sinh viên và tầng lớp trí thức phải được khuyến khích – chứ không phải bắt lỗi hoặc trách phạt – khi đi ngược lẽ phải thông thường và phạm sai lầm. Nếu điều này không xảy ra, Trung Quốc sẽ mãi bị mắc kẹt trong cái bẫy thu nhập trung bình - lắp ráp và sản xuất chứ không phải phát minh và sáng tạo.

Tinh hoa kinh tế ra đi

Xét trong bối cảnh này, sức mạnh thương mại của Trung Quốc yếu kém hơn nhiều so với những gì người ta thấy bên ngoài. Điểm yếu tương tự thể hiện trong nguồn vốn ODI của Trung Quốc.

Mặc dù chính quyền trung ương khuyến khích các công ty Trung Quốc "vươn ra bên ngoài", cho đến nay vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vẫn còn khá thấp. Như đã đề cập ở trên, tổng vốn ODI vừa đủ đưa Trung Quốc vào danh sách hai mươi quốc gia hàng đầu thế giới, mặc dù mức lưu thông hàng năm đang tăng nhanh và hiện đứng thứ ba trên thế giới (88,2 tỷ USD trong năm 2012). Nhưng ODI của Trung Quốc chỉ bằng một phần tư ODI của Mỹ cũng trong năm 2012.

Quan trọng hơn, giống như xem xét các lĩnh vực khác trong hồ sơ toàn cầu của Trung Quốc, người ta cần phải đánh giá kỹ các số liệu thống kê thiên về định lượng, và đặt vấn đề về định tính: Nguồn vốn này sẽ rót vào đâu, và nó có thực sự dành cho đầu tư?

Các đích đến ở nước ngoài và bản chất ODI của Trung Quốc đã thay đổi nhanh chóng từ năm 2011, nhưng phần lớn nguồn vốn thuộc danh mục đầu tư vẫn chảy vào những nơi như Quần đảo Virgin thuộc Anh hay Quần đảo Grand Cayman (những nơi tiếp nhận nguồn vốn ODI của Trung Quốc lớn thứ hai và thứ ba năm 2011).

Vì vậy, một số hoạt động ở đây thực chất không phải là đầu tư nước ngoài – mà nguồn tiền thực sự lưu lại ở nước ngoài tại những địa điểm an toàn. Điều này không chỉ đúng trong trường hợp của chính phủ và các công ty của Trung Quốc, mà còn diễn ra với ngay cả với nguồn tài sản cá nhân.

Sách Xanh thường niên năm 2014 về việc Di cư Quốc tế của Người Trung Quốc, do Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa biên soạn, mới đây cho biết kể từ năm 1990, có tổng số là 9,3 triệu người Trung Quốc đã di cư ra nước ngoài, mang theo 2,8 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương với 46 tỷ USD).

Đây không phải là một diễn biến mới, nhưng đã là một xu hướng đang nổi lên trong thập kỷ qua. Khi tinh hoa kinh tế của một quốc gia ra đi với số lượng lớn như vậy và quá lo lắng trong việc bảo vệ nguồn tiết kiệm cá nhân ở nước ngoài, điều đó rõ ràng cho thấy họ thiếu tin tưởng vào hệ thống chính trị và kinh tế trong nước.

Tuy nhiên gần đây, hồ sơ ODI của Trung Quốc và đích đến địa lý đang được thay đổi. Trung Quốc đang tăng cường hoạt động đầu tư và thu mua ở Châu Á, Mỹ Latinh, Châu Âu và Mỹ.

Người tiêu dùng Trung Quốc đang thâu tóm tất cả các loại tài sản – tài sản thương mại, nhà ở, nhà xưởng, các khu công nghiệp, các cơ sở nghiên cứu và phát triển, trang trại, rừng cây, hầm mỏ, mỏ dầu và khí đốt, cùng các nguồn tài nguyên khác.

Các công ty Trung Quốc đang tích cực tìm cách sáp nhập hoặc mua lại với công ty nước ngoài. Người Trung Quốc cũng đã mua một số lượng lớn tác phẩm nghệ thuật có giá trị trên thị trường đấu giá quốc tế. Như vậy, hồ sơ đầu tư nước ngoài của Trung Quốc đang thay đổi nhanh chóng, nhưng tác động của việc này vẫn còn chưa rõ ràng.

Công ty đa quốc gia bộc lộ nhiều điểm yếu

Về các công ty đa quốc gia của Trung Quốc thì sao? Sức cạnh tranh ở nước ngoài của những công ty này như thế nào? Giống như các lĩnh vực khác, các công ty này cũng bộc lộ rất nhiều điểm yếu.

Xét bề ngoài, theo bảng xếp hạng Fortune Global 500, các công ty Trung Quốc hiện chỉ đứng sau các công ty đa quốc gia của Mỹ. Nhưng thứ hạng này được tính dựa trên cơ sở tổng doanh thu và lợi nhuận – chứ không phải khu vực mà công ty tạo ra lợi nhuận.

Khi nhìn vào các công ty Trung Quốc có trong danh sách năm 2013, người ta nhanh chóng nhận ra rằng có rất ít công ty hoạt động ở nước ngoài và cũng chỉ một số ít trong đó kiếm được hơn một nửa doanh thu từ hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Vì vậy, đây không phải là các công ty đa quốc gia thực sự, đúng hơn là các công ty hoạt động trong nước.

Nhiều công ty Trung Quốc có thể muốn mở rộng hoạt động kinh doanh ra toàn cầu, nhưng cho đến nay, những công ty này chưa thu được kết quả thực sự tốt. Đã có nhiều câu chuyện thất bại hơn là thành công của các công ty đa quốc gia đầy tham vọng của Trung Quốc.

Hoạt động sáp nhập và mua lại công ty nước ngoài của Trung Quốc thường gặp nhiều khó khăn bởi lãnh đạo tập đoàn Trung Quốc đã không thẩm định trước tính khả thi hoặc vì xung đột văn hóa doanh nghiệp.

Xét trên mọi khía cạnh, điểm yếu chính của các công ty đa quốc gia Trung Quốc là nguồn nhân lực - đặc biệt là khâu quản lý. Gần như không có cán bộ quản lý nào với nền tảng đa văn hóa và đa ngôn ngữ, và các công ty Trung Quốc thường không tuyển người nước ngoài với các kỹ năng như vậy cho vị trí như quản lý cấp cao (Công ty Huawei và Haier là những trường hợp ngoại lệ).

Các công ty Trung Quốc và những quản lý của họ thường cho thấy không có khả năng thoát khỏi văn hóa doanh nghiệp và thực tiễn kinh doanh của riêng mình. Nghiêng về hệ thống thứ bậc và vai trò ở nơi làm việc được xác định rõ, Trung Quốc không thích ứng tốt với việc "đề cao" hệ thống quản lý coi trọng sự phân quyền và những sáng kiến ​​cá nhân.

Xu hướng này dẫn đến các những xung đột văn hóa lặp đi lặp lại khi Trung Quốc tiến hành sáp nhập các công ty phương Tây. Các công ty Trung Quốc đã gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với môi trường quản lý, thuế khóa, pháp lý và chính trị ở nước ngoài.

Tính minh bạch và quản trị doanh nghiệp không phải đặc tính thường thấy ở các công ty Trung Quốc – quá trình ra quyết sách của các công ty này thường không rõ ràng, hoạt động kinh doanh bị bòn rút và thủ tục kế toán thường bị gian lận. Nhiều công ty Trung Quốc bị phát hiện gửi thông tin lừa đảo lên cơ quan quản lý chứng khoán ở Mỹ trước khi họ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Initial Public Offering - IPO).

Việc các công ty Trung Quốc thiếu khả năng cạnh tranh cũng thể hiện rõ khi nói đến thương hiệu quốc tế. Chỉ một số ít công ty Trung Quốc có thể thiết lập sự hiện diện về thương hiệu ở nước ngoài: Bia Thanh Đảo, Thiết bị điện gia dụng Haier, Viễn thông Huawei, Hãng Air China, Hãng ôtô Geely và một số thương hiệu khác. Nhưng không một công ty nào của Trung Quốc lọt vào danh sách bình chọn 100 thương hiệu toàn cầu của tạp chí Business Week và hãng Interbrand.

Theo báo Đất Việt