Cánh đồng lớn có lớn?

 

Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình cánh đồng mẫu lớn tại Công ty cổ phần Bảo vệ Thực vật An Giang (AGPPS) đang bộc lộ nhiều vấn đề cần xem xét lại.

 

Về bản chất, việc liên kết giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi sản xuất – tiêu thụ lúa gạo có thể mang lại hiệu quả cao cho mỗi chủ thể. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Trọng Khải – chuyên gia độc lập về nông nghiệp – chất lượng và năng suất, giá trị gia tăng của sản xuất nông sản lại càng phụ thuộc vào chất lượng của sự hợp tác giữa các chủ thể tham gia vào chuỗi ngành hàng, từ cung ứng nguồn lực đầu vào (giống, phân, nước, tiền vốn…), tổ chức sản xuất nông phẩm trên đồng ruộng, vườn cây, chuồng trại, ao hồ nuôi trồng thủy sản, đến mua gom, vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông phẩm. Hiện nay, quy mô sản xuất của mỗi nông hộ, loại hình tổ chức sản xuất phổ biến trong nông nghiệp vẫn còn nhỏ, với 8-10 công đất trồng trọt, vài trăm con gia cầm hay vài chục con heo, bò, 1-2 ha hầm nuôi cá…

Một chủ trương đúng

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, sản xuất nông nghiệp nước ta buộc phải thỏa mãn các nhu cầu cao và khắt khe của thị trường, theo PGS.TS Vũ Trọng Khải, bao gồm các điều kiện: sản phẩm có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng với giá cả cạnh tranh; đảm bảo khối lượng lớn nông sản cung ứng theo lịch trình thời gian nghiêm ngặt, phù hợp với nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ; tổ chức kênh phân phối hợp lý, tiết kiệm và sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của thị trường và khách hàng. Sự liên kết này tạo thành chuỗi ngành hàng từ “trang trại (nông hộ) đến bàn ăn” trong đó nhiều chủ thể cùng tham gia thực hiện và phân chia giá trị gia tăng được tạo ra trong mỗi chuỗi ngành hàng. Để đáp ứng được các yêu cầu này, nhà nông phải thực hiện sản xuất nông nghiệp theo mô hình GAP (Viet Gap hoặc Global Gap), nhà chế biến và nhà buôn phải thực hiện quy trình HACCP (Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát trọng yếu hay là hệ thống kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm). Để chiếm lĩnh thị trường, giành thắng lợi trong cạnh tranh, các doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản không chỉ “đặt hàng” với các nhà khoa học nghiên cứu giải quyết các vấn đề chế biến, bảo quản nông sản mà cả các vấn đề sản xuất nông phẩm trên mỗi trang trại của nông dân, để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất trong cả chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn. Nhờ đó, sự liên kết giữa nhà doanh nghiệp, nhà nông với các nhà khoa học được thiết lập ngày càng vững chắc trên qui mô lớn, dẫn đến thương mại hóa các kết quả nghiên cứu của giới khoa học ở các trường, viện. Nhà doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình, không chỉ đầu tư áp dụng các công nghệ mới nhất do các nhà khoa học tạo ra trong khâu chế biến – bảo quản – tiêu thụ nông sản, mà còn đầu tư giúp nhà nông áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nông sản ở mỗi trang trại. Do vậy, hoạt động khuyến nông vì lợi nhuận do các doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản thực hiện ngày càng phát triển, làm cầu nối giữa các nhà khoa học và nhà nông, đóng vai trò quyết định trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và góp phần phát triển vùng  sản xuất hàng hóa tập trung qui mô lớn trong nông nghiệp.


Theo ông Khải, điều kiện cần và đủ trong việc tổ chức sản xuất theo hợp đồng tạo ra các “cánh đồng lớn” là, nhà nông phải là chủ các trang trại, phổ biến là trang trại gia đình, có qui mô sản xuất nông sản hàng hóa lớn, có khả năng thực thi Global GAP và nhà doanh nghiệp phải có khả năng chế biến – tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoài nước với công nghệ tiên tiến đạt tiêu chuẩn HACCP  (hệ thống kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm). Khác với các hình thức giao dịch buôn bán nông sản trên thị trường giao ngay và thị trường giao sau (kỳ hạn và triển hạn), giá cả trong hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng không phải là giá phản ảnh quan hệ cung – cầu trên thị trường tại thời điểm mua – bán (giao ngay) hay tại thời điểm ấn định trong tương lai (giao sau) mà là phản ánh sự phân chia lợi ích, rủi ro và quyền quyết định giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ nông sản. Về phía nhà nông, theo ông Khải, giá trong sản xuất theo hợp đồng đủ để đảm bảo lợi ích hợp lý thỏa đáng theo sự tính toán của họ khi ký hợp đồng trước vụ sản xuất; khi đến thời vụ thu hoạch, họ sẽ giao nông sản cho doanh nghiệp. Nhà nông có toàn quyền quyết định và chịu rủi ro (do chính sách, thiên tai, thị trường đầu vào) trong khâu sản xuất nông phẩm. Còn nhà doanh nghiệp chế biến – tiêu thụ có toàn quyền quyết định và chịu rủi ro (do thiên tai, thị trường, chính sách…) trong khâu chế biến – tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước.
Các nhà doanh nghiệp chế biến thường bán sản phẩm trên thị trường giao sau (kỳ hạn và quyền chọn) để hạn chế rủi ro. Còn giá ghi trong hợp đồng mà nhà nông đã ký với doanh nghiệp tuy không thu lợi nhuận tối đa, nhưng đã có lợi thỏa đáng. Bù lại, khi giá xuống thấp, nông dân vẫn bán cho doanh nghiệp theo giá đã ký trong hợp đồng. Đó mới là điều quan trọng đối với các nhà nông có trang trại sản xuất hàng hóa lớn. Nhưng thực tế, vì lợi ích trước mắt do quy mô sản xuất nhỏ, lượng nông sản hàng hóa quá ít, nông dân có thể bán nông sản cho bất kì ai theo giá thị trường. Nếu doanh nghiệp phải mua theo giá cao theo thị trường, lúc đó quan hệ giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp không còn là giao dịch sản xuất theo hợp đồng mà là giao dịch giao ngay của nền sản xuất nhỏ, manh mún. Tóm lại, cánh đồng lớn là một chủ trương đúng đắn với điều kiện nó phải được triển khai trên quy mô canh tác đủ lớn và có tính bền vững trong dài hạn.

AGPPS: Lớn nhưng chưa mạnh
Công ty cổ phần BVTV An Giang là một doanh nghiệp nông nghiệp thực hiện hình thức tổ chức sản xuất theo hợp đồng khá sớm tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tên gọi “Chương trình đầu tư, thu mua, chế biến lúa gạo”. Công ty xây dựng một nhà máy chế biến gạo với công suất 100.000 tấn lúa/năm ở xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Công ty tổ chức vùng sản xuất nguyên liệu trên quy mô 13.000 – 15.000 ha canh tác lúa, xác định các tiểu vùng sản xuất lúa gạo trên 15.000 ha canh tác, xác định bộ giống lúa có chất lượng cao và phù hợp với mỗi tiểu vùng; công ty hợp đồng hợp tác sản xuất lúa hàng hóa với các hộ nông dân trong vùng. Theo đó, AGPPS sẽ đầu tư cho nông dân giống, thuốc bảo vệ thực vật, vật tư, phân bón các loại vào từng thời điểm sử dụng không tính lãi trong 120 ngày, kể từ đầu vụ đến sau thu hoạch 30 ngày (nhằm giải quyết vấn đề vốn cho nông dân). Đồng thời, lực lượng khuyến nông FF (Farmer’s Friends – bạn của nhà nông) của AGPPS hướng dẫn nông dân thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác hiệu quả – bền vững, ghi nhật ký đồng ruộng, xử lý dịch hại và các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất – sinh học trên đồng ruộng, lên lịch thu hoạch, vận chuyển lúa về nhà máy. Theo một chuyên gia tại Viện Cây ăn quả miền Nam, đây là hình thức “nhất thì, nhì thục”, nghĩa là giải quyết vấn đề công nghệ sản xuất. Nhưng thực tế triển khai tại AGPPS lại đang bộc lộ nhiều bất cập.

 
Tại hội thảo về mô hình cánh đồng lớn vừa qua tại Cần Thơ, nhiều chuyên gia cho rằng, việc xây dựng mô hình này vài năm gần đây vẫn còn nhiều bất ổn. Lấy ví dụ ngay tại AGPPS, với số lượng 5-7 nhà máy xay xát gạo như hiện nay và khả năng phục vụ diện tích trên 100.000 ha cho ba vụ lúa, chiếm tỉ lệ dưới 2% diện tích trồng lúa tại ĐBSCL là rất hạn chế. Tuy nhiên, cách làm của AGPPS vẫn bộc lộ nhiều hạn chế do khả năng sinh lời thấp và rủi ro cao khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Thứ nhất, nếu đầu tư xây dựng thêm nhà máy xay xát và kho chứa, do một năm chỉ canh tác hai vụ lúa nên không thể đủ ngân sách để đầu tư trong khi nhà máy xay không thể sử dụng trong nhiều tháng. Đó là lý do không thể vay được ngân hàng với lãi suất thị trường để đầu tư cho mở rộng quy mô sản xuất. Thứ hai, do vấn đề gieo sạ đồng loạt và thu hoạch đồng loạt nên lúa buộc phải được sấy cùng lúc nên chất lượng sấy không đồng đều và ổn định do phải sấy ở nhiều cơ sở với chất lượng khác nhau. Thứ ba, thay vì đầu tư cho xây dựng nhà máy sấy thì chi phí cơ hội để đầu tư sang lĩnh vực khác sẽ tốt hơn và có khả năng sinh lời cao hơn, hiệu suất sử dụng tốt hơn. Thứ tư, chỉ cần một hợp đồng đầu ra mất khả năng thanh toán hay vụ mùa bị ảnh hưởng bởi thời tiết và thiên tai thì cũng sẽ ảnh hưởng đến các cam kết của việc triển khai cánh đồng lớn. Đó là chưa kể doanh nghiệp sản xuất lại không phải là nhà phân phối lúa gạo nên không kiểm soát được thị trường đầu ra. Thứ năm, ngân hàng không muốn cho doanh nghiệp vay để doanh nghiệp mua lúa và phân đạm cung cấp cho bà con nông dân vì người nông dân có thể phá hợp đồng để bán lúa với giá cao hơn cho thương lái hoặc người nông dân bị mất mùa thì ngân hàng cũng không có khả năng thu hồi tiền từ doanh  nghiệp (do không có tài sản thế chấp). Thứ sáu, các doanh nghiệp vùng ĐBSCL chưa tính đến vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất và các biện pháp phòng tránh thiên tai là rất yếu. Cuối cùng, do Việt Nam chưa phát triển thị trường tương lai nên các công cụ tự bảo hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp chưa phát triển, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp đều thua lỗ và không có ai đảm bảo cho nông dân hay doanh nghiệp khi bị mất mùa hay thiên tai.
Theo phản ánh của đại diện nông dân tỉnh Đồng Tháp, từ vụ lúa Đông Xuân 2013-2014 các doanh nghiệp đã xúc tiến việc liên kết xây dựng vùng nguyên liệu theo mô hình này với nông dân. Tuy nhiên ngay trong vụ lúa này, tình trạng doanh nghiệp phá vỡ hợp đồng với nông dân lại tiếp diễn, gây mất lòng tin của chính quyền cũng như người trồng lúa. Chẳng hạn tại xã Tân Hồng, thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp thu hoạch lúa xong đã phải bán đổ bán tháo. Lúa chín rục ngoài đồng, thất thoát nhiều, năng suất giảm. Trong khi đó thương lái ra sức ép giá, dù giá lúa hiện nay đã rất thấp. Sở dĩ bà con nông dân rơi vào tình cảnh này là do Công ty cổ phần Docimexco không thực hiện hợp đồng mua lúa đã ký kết hồi đầu vụ.
Một số chuyên gia nông nghiệp cho rằng, mô hình cánh đồng lớn sẽ không “lớn” được nếu không cân bằng quyền lợi giữa doanh nghiệp và nông dân trong chuỗi sản xuất lúa gạo như tại AGPPS. Thực tế đang diễn ra ở nhiều địa phương khu vực ĐBSCL chỉ ra rằng việc áp dụng cánh đồng lớn chỉ tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp, còn nông dân không được hưởng lợi như họ đáng được hưởng. Một chuyên gia nông nghiệp nhận định: “Mô hình mà chúng ta đang gọi là cánh đồng lớn có nguy cơ bị phá sản bởi chính sách chưa chú trọng thỏa đáng việc đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư vốn hay chủ ngân hàng cho vay. Người ta sẽ đầu tư tiền vào nơi nào có khả năng sinh lời cao nhất và rủi ro thấp nhất. Cũng tương tự, cho vay phải tính đến khả năng có thể thu hồi vốn tốt nhất”.

Nguồn: Xuân Mai/Doanhnhansaigon