Xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam : Cái gốc bền vững

nongnghiepBài viết của PGS.TS Vũ Trọng Khải đăng trên báo TBKTSG phân tích các đặc điểm xây dựng thương hiệu nông sản và các giải pháp để tạo ra cái gốc bền vững cho thương hiệu nông sản Việt Nam.

Các đặc điểm xây dựng thương hiệu nông sản

Muốn xây dựng thương hiệu, trước hết mỗi sản phẩm phải thỏa mãn được 3 điều kiện : (1) Đạt đến một khối lượng đủ lớn và ổn định, đảm bảo chất lượng đồng đều; (2) Giá bán mang tính cạnh tranh trên thương trường trong và ngoài nước; (3) Tổ chức kênh phân phối bảo đảm lợi ích hài hòa, hợp lý của tất cả các chủ thể tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng.

Trong nông nghiệp, việc xây dựng thương hiệu còn có một số đặc thù riêng. Ví dụ, người ta biết đến thương hiệu cà phê Trung Nguyên, nhưng không thể có thương hiệu cà phê của các trang trại cung cấp cà phê nguyên liệu cho công ty Trung Nguyên. Vì thế, việc bảo đảm ba điều kiện trên không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp chế biến, bảo quản tiêu thụ nông sản, mà còn phụ thuộc rất lớn vào nông dân, chủ trang trại.

Ngoài ra, do sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện nay còn nhỏ lẻ, manh mún, nên các doanh nghiệp chưa thể trực tiếp mua nông sản của hộ nông dân mà phải qua nhiều tầng lớp trung gian. Vì thế, việc đảm bảo ba điều kiện trên, nhất là điều kiện sản phẩm có chất lượng đồng đều, ổn định, là rất khó khăn.

Chuỗi giá trị nông sản “từ trang trại đến bàn ăn” do nhiều chủ thể cùng tham gia với những vai trò khác nhau trong những điều kiện kinh tế, kỹ thuật cụ thể. Do vậy, việc phân chia lợi ích một cách hợp lý giữa các chủ thể của chuỗi ngành hàng trở nên khó khăn.

Đặc điểm quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp là mang tính sinh học. Do vậy, muốn đạt năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế cao, con người phải kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình sản xuất mang tính sinh học trên đồng ruộng, chuồng trại, chăm sóc một cách tỉ mỉ đến từng cá thể cây, bằng các tác động kỹ thuật đúng lúc, đúng cách. Điều đó đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao của người lao động sản xuất nông nghiệp và quy mô sản xuất vừa với tầm hạn quản lý của người chủ trang trại và những người lao động khác trong trong mỗi đơn vị sản xuất nông nghiệp.

Vì thế, chỉ có trang trại gia đình, mà thường gọi là kinh tế hộ nông dân, mới thỏa mãn được 2 yêu cầu này, nên nó luôn là lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếu ở mọi trình độ phát triển kinh tế. Chỉ khác là, ở trình độ cao về cơ khí hóa, tin học hóa… quy mô sản xuất của trang trại gia đình sẽ rất lớn, có khi từ hàng ngàn héc ta canh tác, hàng vạn đàn con gia cầm, hàng ngàn đầu con gia súc. Nhưng, người ta vẫn sử dụng các loại hình trang trại gia đình, trong đó người chủ gia đình điều hành trực tiếp hoạt động sản xuất – kinh doanh của trang trại, không thuê người lao động quản lý (có thể thuê một số ít người lao động trực tiếp một cách thường xuyên hay trong lúc thời vụ khẩn trương). Trong khi đó, ở Việt Nam hiện nay, quy mô sản xuất của một hộ nông dân bình quân chỉ có 0,8 ha canh tác.

Như vậy, trang trại gia đình có ưu thế tuyệt đối trong khâu sản xuất mang tính sinh học. Còn các khâu khác của chuỗi giá trị ngành hàng thuộc về các chủ thể khác, trước hết là doanh nghiệp chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản. Ba vấn đề cần được giải quyết tốt để có được 3 điều kiện nêu trên của chuỗi giá trị hàng nông sản là : (i) thị trường và thương hiệu; (ii) công nghệ sản xuất; (iii) vốn đầu tư. Chỉ có doanh nghiệp chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản có quy mô lớn, mới có khả năng giải quyết ba vấn đề này. Đó là ưu thế của doanh nghiệp chế biến, bảo quản mà các trang trại không thể có được.

Giải pháp nào sản xuất nông sản ở Việt Nam

Chúng ta thường thấy các hoạt động khuyến nông nhằm áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp trong các hộ nông dân, như kỹ thuật “3 giảm + 3 tăng”, IPM và VietGAP,GlobalGAP… bảo đảm sản xuất nông phẩm đạt năng suất cao, chất lượng đồng đều và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, hoạt động khuyến nông không giải quyết được vấn đề thị trường và vốn đầu tư cho sản xuất nông phẩm.

Doanh nghiệp chế biến nông sản đứng ra tổ chức lại nền sản xuất nhỏ lẻ của nông hộ theo nguyên tắc “liền đồng, cùng trà giống, khác chủ” để có thể cung ứng nông sản nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với số lượng và chất lượng vừa đủ lớn, vừa ổn định, theo tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia. Ví dụ : 15.000ha lúa của 15.000 hộ nông dân cung ứng nguyen liệu cho một nhà máy chế biết có công suất 100.000 tấn lúa/năm. Tuy nhiên, do có quá nhiều hộ nông dân, nên việc tổ chức lại sản xuất theo nguyên tắc này tuy đúng, nhưng rất khó thực hiện.

Sản xuất theo hợp đồng ( contract farming) là hình thức tổ chức sản xuất nông sản tốt nhất để thực hiện chuỗi giá trị nông sản “từ trang trại đến bàn ăn” ngay cả ở những nước có nền công nghiệp hàng hóa phát triển cao, như Châu Âu, Bắc Mỹ. Có thể coi trường hợp của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật (BVTV) An Giang là ví dụ điển hình cho hình thức tổ chức sản xuất theo hợp đồng ở nước ta hiện nay. Công ty xây dựng một nhà máy chế biến gạo với công suất 100.000 tấn lúa/năm ở xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Công ty tổ chức vùng sản xuất nguyên liệu trên quy mô 13.000 – 15.000 héc ta canh tác lúa, xác định các tiểu vùng sản xuất lúa gạo và xác định bộ giống lúa có chất lượng cao và phù hợp với mỗi tiểu vùng, và hợp đồng hợp tác sản xuất lúa hàng hóa với các hộ nông dân trong vùng.

Theo đó, công ty đầu tư cho nông dân giống xác nhận, thuốc BVTV, phân bón các loại vào từng thời điểm sử dụng, không tính lãi trong 120 ngày, kể từ đầu vụ đến sau thu hoạch 30 ngày ( giải quyết vấn đề vốn cho nông dân). Đồng thời, lực lượng khuyến nông FF ( Field Forces) của công ty hướng dẫn nông dân thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác hiệu quả - bền vững, ghi nhật ký đồng ruộng, xử lý dịch hại và các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất – sinh học trên đồng ruộng, lên lịch thu hoạch, vận chuyển lúa về nhà máy chế biến. Mỗi cán bộ FF phụ trách 40-60 héc ta canh tác lúa của nông dân, để thực hiện “nhất thì, nhì thục”, tức là giải quyết vấn đề công nghệ sản xuất.

Công ty cung cấp cho nông dân bao chứa lúa, sấy lúa miễn phí, mua lúa của nông dân ngay tại nhà máy theo giá được niêm yết.Giá này bảo đảm lợi ích của công ty và của nông dân. Công ty bao chi phí bốc xếp tại ruộng, vận chuyển lúa từ ruộng đến nhà máy. Nếu chưa muốn bán ngay, công ty cho nông dân gửi lúa vào kho của nhà máy, miễn phí bảo quản trong 30 ngày. Nông dân sẽ đăng ký giá bán.Khi giá niêm yết của nhà máy bằng giá đăng ký bán của nông dân, công ty sẽ thanh toán tiền cho nông dân. Như vậy, hình thức này đã giải quyết cả 3 vấn đề : thị trường, công nghệ, vốn sản xuất.

Vụ đông xuân 2010 – 2011, 1.200 héc ta của hơn 400 hộ nông dân ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã trở thành vùng sản xuất lúa nguyên liệu cho nhà máy chế biến của Công ty cổ phần BVTV An Giang, đạt năng suất 9-11 tấn /héc ta, với giá thành sản xuất : 2.200 đồng/kg lúa, giá bán cho nhà máy là 6.000 đồng/héc ta gieo trồng. Nông dân lãi từ 38-44 triệu đồng/héc ta gieo trồng. Những con số này tưởng chỉ có trong mơ của nông dân vùng ĐBSCL trong suốt 22 năm xuất khẩu gạo ( 1989 -2011).

Mặt khác, cũng cần thấy rằng, việc tổ chức sản xuất theo hợp đồng trên 15.000 héc ta lúa của 10.000 hộ nông dân là một thách thức lớn đối với công ty. Ước gì chỉ có khoảng 1.000 hộ nông dân sản xuất trên 15.000 héc ta lúa với máy kéo, máy nông nghiệp, máy gặt đập lúa, có công suất phù hợp! Do vậy, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao là điều chắc chắn đạt được khi thực hiện tích tụ ruộng đất và cơ giới hóa sản xuất.

Trên cơ sở đó, việc xây dựng thương hiệu gạo của công ty cổ phần BVTV An Giang mới có thể thực hiện nhanh và bền vững; các tiểu xảo, kỹ năng xây dựng thương hiệu mới có thể đem ra ứng dụng. Như vậy, 3 giải pháp căn bản để xây dựng thương hiệu nông sản bền vững là :

  1. Doanh nghiệp chế biến – bảo quản, tiêu thụ, chủ động tổ chức sản xuất theo hợp đồng trên toàn chuỗi giá trị của mỗi ngành hàng nông sản.

  2. Các trang trại gia đình sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn được hình thành nhờ tích tụ ruộng đất và cơ giới hóa ( không phải dồn điền đổi thửa) để đáp ứng yêu cầu nông sản nguyên liệu của doanh nghiệp chế biến, trong khuôn khổ tổ chức sản xuất theo hợp đồng.

  3. Các hợp tác xã do các chủ trang trại này thành lập để : (i) trong giai đoạn đầu, làm cầu nối giữa doanh nghiệp doanh nghiệp chế biến và trang trại của các xã viên hợp tác xã; (ii) trong giai đoạn sau, lập các nhà máy chế biến để tiêu thụ nông sản cho nông dân, làm đối trọng, cạnh tranh với các doanh nghiệp hiện hữu.

Thể chế quản lý vĩ mô của Nhà nước cần tạo ra khung pháp lý để các giải pháp trên được thực thi một cách thuận lợi. Đừng quá lạm dụng các kỹ năng, tiểu xảo trong xây dựng thương hiệu nông sản khi chưa thực hiện việc tổ chức sản xuất theo hợp đồng chuỗi giá trị ngành hàng, nếu thực sự muốn có một nền nông nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đó là cái gốc bền vững của việc xây dựng thương hiệu nông sản.

PGS.TS Vũ Trọng Khải - TBKTSG