Người Việt đã, đang và sẽ ưu tiên dùng hàng Việt

made-in-vietnamCuộc vận động từng bước trở thành hiên thực sinh động, phát huy hiệu quả. Xét về 4 phương diện, nhà nước, doanh nghiệp, người dân, nhà nước đều có sự phát triển. Người tiêu dùng ngày càng phát ưu tiên dùng hàng Việt, người Việt an tâm hơn trong vấn đề hàng Việt.

Về phân phối, cả bề rộng và bề sâu, hàng Việt Nam đã bày nhiều hơn tại các siêu thị. Hàng Việt đã len lỏi tại các thị phần vùng sâu vùng xa. Hàng Việt len tại hệ thống bán lẻ tại một số địa phương. Việc sản xuất hàng Việt đã được ưu tiên hơn. Rất nhiều mẫu mã mới, công nghệ mới được vận dụng nhằm áp dụng vào hàng Việt. Nhà nước quan tâm nhiều hơn những chính sách đã định hình. Tất cả những điều đó giúp hàng Việt gần hơn với hàng Việt.

"Hàng Việt” trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay không nên hiểu đơn thuần là những sản phẩm do các công ty 100% vốn trong nước sản xuất bằng 100% nguyên liệu nội địa, mà còn là sản phẩm của các công ty nước ngoài liên doanh với các công ty Việt Nam sản xuất ở nội địa, sử dụng một phần nguyên liệu ngoại nhập, và có thể mang thương hiệu quốc tế...

Hàng Việt sẽ ngày càng được ưu tiên lựa chọn trong con mắt người tiêu dùng cả trong và ngoài nước khi có sự cải thiện mạnh mẽ hơn về mẫu mã, chất lượng, có sức cạnh tranh hơn về giá cả, được quảng bá mạnh và hữu hiệu hơn, cũng như có được hệ thống phân phối và dịch vụ hậu mãi chuyên nghiệp và thuận lợi hơn cả trong và ngoài nước.

nguyen-minh-phong
Ông Nguyễn Minh Phong
Do vậy, để đạt được mục tiêu, Để người Việt gần hơn với hàng Việt, theo ông Phong phải nâng cấp sự cạnh tranh của hàng Việt Nam, nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Trước hết, cần mở rộng thông tin cụ thể,cập nhật và hỗ trợ kinh phí (theo Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia do Thủ tướng ký ngày 15-11-2010 và những bổ sung mới trong năm 2011, kể từ 1/8/2011 sẽ hỗ trợ 50-100% chi phí tổ chức và phát triển hệ thống phân phối như phí tổ chức bán hàng, quảng bá....) cho doanh nghiệp tham gia tổ chức các hoạt động bán hàng, thực hiện các chương trình đưa hàng Việt về nông thôn, các khu công nghiệp, khu đô thị thông qua doanh nghiệp kinh doanh theo ngành hàng và các hoạt động xúc tiến thương mại miền núi, biên giới và hải đảo bên cạnh công tác xúc tiến xuất khẩu và xúc tiến thương mại thị trường trong nước. Các chương trình và hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại cần được thực hiện chuyên nghiệp hơn, thường xuyên và có tổ chức hơn, có thể do Bộ Công Thương bảo trợ hoặc thông qua hội của doanh nghiệp hoặc trung tâm xúc tiến địa phương; cũng như do các doanh nghiệp chủ động liên kết, phối hợp và đóng góp kinh phí cần thiết. Các cơ quan nhà nước cần minh bạch, phổ biến thông tin trước và sau khi phân bổ các chương trình như cấp cho ai, kinh phí thực hiện bao nhiêu... để doanh nghiệp có thể cập nhật và lựa chọn chương trình phù hợp với hoạt động của đơn vị mình. Đặc biệt, cần chỉ đạo và khuyến khích xây dựng và duy trì đều đặn các chương trình chuyên đề về hàng Việt, tập trung tuyên truyền cho hàng Việt, cho những thương hiệu Việt xứng đáng trên các phương tiện thông tin đại chúng quốc gia và địa phương; giảm thiểu các chương trình phim dã sử nước ngoài, để giành và tăng thời lượng phát các chương trình kinh tế, trong đó có chương trình quảng bá hàng Việt và chính sách đối với hàng Việt, coi đây như nhiệm vụ chính trị ưu tiên của các đài truyền hình và báo chí TW, địa phương do NSNN tài trợ.

Bên cạnh đó, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho người tiêu dùng có thêm thông tin và kiến thức không chỉ về hàng Việt, mà còn về chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm, cũng như các kiến thức phổ thông khác để người tiêu dùng nắm rõ và lựa chọn, tự mình trở thành "người tiêu dùng thông thái”, biết phân biệt hàng tốt, xấu một cách khoa học và không bị biến thành tín đồ ‘sính ngoại” cảm tính hoặc trở thành nạn nhận của sự thiếu hiểu biết và dại dột của chính mình trước những chiêu thức quảng cáo hàng ngoại nhập, nhất là hàng giá rẻ, chất lượng thấp. Trong công tác thông tin, tuyên truyền, cần không chỉ cho người tiêu dùng thấy được lợi ích kinh tế của cá nhân họ, thấy được các ưu điểm nổi trội của hàng hóa Việt Nam so với hàng nhập khẩu, mà còn nhấn mạnh tinh thần và tình cảm cộng đồng, để họ tự giác tin rằng việc dùng hàng Việt của họ sẽ giúp đỡ được cho những người thân, cũng như những lao động khác có công ăn việc làm, tôn vinh thương hiệu và giá trị Việt, nhất là những mặt hàng văn hóa, tâm linh…

Đồng thời, Các nhà sản xuất cần chú trọng xây dựng các kênh phân phối để những đại lý, những người bán hàng là một đại diện tin cậy giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nhà phân phối phải am hiểu thị trường, có uy tín với các bạn hàng trên thị trường phân phối, có tiềm lực về tài chính, có cam kết về đầu tư và hợp tác trong dài hạn. Việc giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà sản xuất và nhà phân phối giúp đưa sản phẩm đến khách hàng nhanh nhất với giá cả tốt nhất, góp phần xây dựng hình ảnh nhà sản xuất trong lòng khách hàng.

Trong quá trình này, các doanh nghiệp cần chủ động phối, kết hợp với nhau một cách có tổ chức, tránh "đơn thương độc mã” và nhất là họ rất cần sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý chức năng và địa phương về thủ tục giấy tờ, quản lý thị trường và mặt bằng kinh doanh để tiếp cận thị trường, gây dựng hệ thống phân phối, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa (Việt Nam hiện có 9.000 chợ, 550.000 điểm bán lẻ tập trung tại 6.000 xã của 63 tỉnh, thành; nông thôn chiếm 70% dân số và 27% doanh số bán lẻ trên cả nước). Vấn đề kiểm soát giá cả chặt chẽ để bảo vệ người tiêu dùng cần được gia tăng với kiểm soát thị trường, hàng lậu, hàng giả, tập trung đặc biệt vào thị trường nông thôn.. Cần đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận về chất lượng với hệ thống các quy chuẩn để giúp người tiêu dùng loại bỏ những e ngại khi sử dụng hàng Việt.

Đặc biệt, các doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư kinh doanh phù hợp, lâu dài, ổn định, nhấn mạnh phát triển theo chiều sâu và bề dọc, năng động, phản ứng linh hoạt, hiệu quả với nhu cầu, thị hiếu và xu hướng thị trường, nhất là thị trường ngách và đo lường được dung lượng thị trường, chuyển dần sang phân khúc hàng cao cấp bằng những thương hiệu mới, riêng. Các doanh nghiệp cũng cần coi trọng việc bảo vệ thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tạo sự tiện lợi trong việc lựa chọn sản phẩm, bảo đảm chất lượng sản phẩm ổn định và chăm sóc khách hàng tốt.

Cuối cùng, cần khẳng định rằng, Nhà nước nắm công cụ liên quan đến cả công tác lập pháp, lập quy và hành pháp, đồng thời là người tuyên truyền và là khách hàng lớn. Vì vậy, ưu tiên dùng hàng Việt nên bắt đầuvà cần sự nêu gương từ các lãnh đạo các cấp, các ngành, các doanh nghiệp Nhà nước, được thể chế hóa vào các quy định mua sắm tài sản công và đấu thầu trong chi tiêu và đầu tư công; cũng như trong các quy chuẩn và quy tắc ứng xử với người tiêu dùng của doanh nghiệp.

Báo Đại Đoàn Kết