Ai hưởng lợi khi VinaPhone và MobiFone sáp nhập?

vnpt2Mặc dù cơ quan quản lý khẳng định chưa có quyết định sáp nhập VinaPhone với MobiFone, nhưng việc sáp nhập sẽ là phương án tối ưu nhất cho chính Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam (VNPT), chứ không phải cho thị trường.

Theo khẳng định của ông Phan Hoàng Đức, Phó tổng giám đốc VNPT, Đề án tái cấu trúc Tập đoàn, trong đó có phương án sáp nhập VinaPhone và MobiFone, đang trong giai đoạn trình xin ý kiến các bộ, ngành để hoàn thiện trước khi trình Chính phủ phê duyệt.

Tại thời điểm này, thị trường viễn thông Việt Nam đang duy trì thế chân vạc giữa 3 nhà mạng ngang tài, ngang sức là Viettel, VinaPhone và MobiFone. Nếu phương án trên được chấp thuận, thị trường viễn thông sẽ mất đi thế chân vạc đó, đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ khó khăn hơn khi muốn trở thành đối tác chiến lược của MobiFone.

Nếu VinaPhone và MobiFone tiến hành sáp nhập, mạng di động mới này sẽ chiếm tới 57,8% thị phần và việc duy trì sự cạnh tranh lành mạnh là rất mong manh. Trong khi đó, theo Dự thảo Quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia đến năm 2020 (đang được Bộ Thông tin và Truyền thông trình Chính phủ ban hành), thì ở mỗi dịch vụ viễn thông quan trọng, trong đó có dịch vụ viễn thông di dộng phải đảm bảo thông qua các chính sách cấp phép, kết nối và quy hoạch tài nguyên phù hợp để có ít nhất 3 doanh nghiệp tham gia hoạt động nhằm thúc đẩy cạnh tranh.

Về phía các nhà đầu tư nước ngoài, mặc dù quá trình cổ phần hóa MobiFone đã kéo dài hơn 6 năm, nhưng gần như các nhà đầu tư nước ngoài vẫn nuôi hy vọng.

Theo bình luận của ông Jacques Fulcant, nguyên Tổng giám đốc Orange France Telecom tại Việt Nam, việc cổ phần hóa hay sáp nhập VinaPhone và MobiFone hoàn toàn phụ thuộc vào Chính phủ Việt Nam và VNPT. Tuy nhiên, ông Jacques Fulcrant cho rằng, chọn phương án cổ phần hóa sẽ là giải pháp tốt hơn, vì đây là xu thế không thể đảo ngược, đồng thời giúp các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp xúc và học tập công nghệ tiên tiến của đối tác nước ngoài.

"Nếu chọn phương án sáp nhập hai nhà mạng này, thị trường sẽ chỉ còn hai nhà mạng lớn độc quyền (Viettel và VNPT-phóng viên). Điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến cạnh tranh lành mạnh", ông Jacques Fulcant nói.

Còn theo ông Furihasshi Goro, Trưởng văn phòng đại diện của NTT Docomo tại Việt Nam, trong hai cách tham gia có lợi nhất của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường viễn thông Việt Nam là thực hiện góp vốn vào các doanh nghiệp hiện có của Việt Nam. "Sự ra đời của Nghị định 25/2011/NĐ-CP (quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông) sẽ có những thay đổi về cơ cấu của VNPT cũng như của VinaPhone và MobiFone, với chính sách mới này sẽ dễ dàng hơn cho Docomo tham gia góp vốn vào các đối tác tại Việt Nam trong lĩnh vực viễn thông", ông Furihasshi Goro cho biết thêm.

Ông Tony Foster, Giám đốc điều hành Công ty Luật Freshfields Bruckhaus Deringer tại Việt Nam thì cho rằng, việc sáp nhập VinaPhone và MobiFone, nếu xảy ra, sẽ làm cho quá trình cổ phần hóa trong lĩnh vực viễn thông dài thêm, dẫn đến giảm sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. "Có rất nhiều công ty đang bày tỏ mối quan tâm trở thành đối tác chiến lược, nhưng nếu tiến trình này tiếp tục diễn ra với tốc độ chậm trong vòng 2-3 năm tới, thì chắc chắn sẽ làm giảm mối quan tâm của các nhà đầu tư", ông Tony Foster nhận định.

Như vậy có thể nói, việc VNPT dự thảo phương án sáp nhập VinaPhone và MobiFone là phương án tối ưu nhất cho chính VNPT, chứ không phải là phương án tối ưu nhất cho thị trường. Lý do là, hiện MobiFone chỉ chiếm khoảng 4% lao động của VNPT, nhưng lại mang tới 50% lợi nhuận cho Tập đoàn này. Như vậy, nếu chỉ còn giữ 20% vốn của MobiFone, VNPT sẽ gặp khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn mà lợi nhuận của Tập đoàn đã bắt đầu có dấu hiệu suy giảm. Trong trường hợp sáp nhập, liệu chỉ đơn thuần với phép cộng, VNPT có đủ lực để quản lý để không xảy ra tình trạng MobiFone "giảm khỏe" vì có thêm sự cộng sinh của VinaPhone.

Trong khi đó, theo bình luận của ông Mai Liêm Trực, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính - viễn thông, việc sáp nhập các doanh nghiệp viễn thông cần dựa trên sự đàm phán thỏa thuận giữa các doanh nghiệp với nhau, tất nhiên, dưới sự "cầm trịch" của cơ quan quản lý nhà nước. Việc này nhằm tránh tạo gánh nặng cho doanh nghiệp sau khi thực hiện sáp nhập hay mua bán. Hoặc cũng có thể tái cấu trúc lại các doanh nghiệp viễn thông theo hướng cổ phần hóa và Nhà nước chỉ nắm cổ phần chi phối tại một số doanh nghiệp đặc thù, còn lại thì tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác tham gia.

"Trên thực tế, trong giai đoạn 10 năm mở cửa thị trường (từ 2000-2010), thị trường viễn thông Việt Nam vẫn chưa thực sự tạo được điều kiện cho các thành phần kinh tế khác ngoài Nhà nước tham gia", ông Trực giải thích thêm.

Theo Báo Đầu Tư